Có ưu đãi bất ngờ cho bạn hôm nay: Nắm bắt ngay!

Các Mặt Hàng Thủy Sản Xuất Khẩu của Việt Nam năm 2026

Author: Kelly | Published: September 2, 2026

News Kiến thức về Thương mại quốc tế Các Mặt Hàng Thủy Sản Xuất Khẩu của Việt Nam năm 2026
Các Mặt Hàng Thủy Sản Xuất Khẩu của Việt Nam năm 2026

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 6,86 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tôm tiếp tục là nhóm đóng góp lớn nhất, đạt gần 2,78 tỷ USD trong 7 tháng và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch. Cá tra đứng sau với khoảng 1,3 tỷ USD, trong khi cá ngừ đạt gần 544 triệu USD. Tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm không đồng đều.

Trong bài viết này, TradeInt sẽ phân tích tình hình xuất khẩu các mặt hàng thủy sản nổi bật của Việt Nam trong năm 2026.

Những mặt hàng thủy sản xuất khẩu nổi bật nhất năm 2026

Tôm, cá tra và cá ngừ là ba nhóm thủy sản có quy mô xuất khẩu lớn nhất trong 7 tháng đầu năm 2026, trong khi cua ghẹ và nhuyễn thể có vỏ nổi bật nhờ tốc độ tăng trưởng cao. Theo VASEP, tôm đạt gần 2,78 tỷ USD, cá tra khoảng 1,3 tỷ USD và cá ngừ gần 544 triệu USD.

Mặt hàng Kim ngạch 7T/2026 So với cùng kỳ
Tôm 2,78 tỷ USD +12,6%
Cá tra 1,3 tỷ USD +10%
Cá ngừ 544 triệu USD +2%
Cua ghẹ và giáp xác 246 triệu USD +28,7%
Nhuyễn thể có vỏ 178 triệu USD +29,5%

Nguồn: VASEP, số liệu lũy kế 7 tháng đầu năm 2026.

1. Tôm: Dẫn đầu với gần 2,78 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu

Tôm là mặt hàng thủy sản xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026, đạt gần 2,78 tỷ USD, tăng 12,6% và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch thủy sản.

Xuat Khau Tom Di Eu

Sự tăng tốc này được hỗ trợ bởi một loạt yếu tố thuận lợi. Trung Quốc và Hong Kong là động lực tăng trưởng quan trọng của tôm Việt Nam, đặc biệt ở tôm hùm, tôm sú và các sản phẩm phục vụ phân khúc nhà hàng, tiêu dùng cao cấp. Vị trí địa lý gần cũng giúp Việt Nam vượt trội ở phân khúc tôm sống và tôm tươi – loại hàng đòi hỏi thời gian vận chuyển cực ngắn.

Tôm hùm tại thị trường Trung Quốc đang tạo động lực đáng kể. Riêng 5 tháng đầu năm, tôm hùm xanh xuất sang Trung Quốc đạt khoảng 503,9 triệu USD và chiếm gần như toàn bộ giá trị tôm hùm xuất sang thị trường này.

Trong khi đó, các dòng tôm phổ biến như tôm chân trắng và tôm sú phải cạnh tranh trực tiếp hơn tại những thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản. Áp lực cạnh tranh đáng chú ý đến từ Ecuador, đặc biệt ở tôm chân trắng. Không chỉ có nguồn cung lớn và giá cạnh tranh hơn, các nhà cung cấp Ecuador còn đang mở rộng sang các sản phẩm bóc vỏ và qua chế biến. Điều này khiến cạnh tranh với Việt Nam dịch chuyển từ phân khúc nguyên liệu sang cả những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Các thị trường xuất khẩu tôm của Việt Nam

2. Cá tra: Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trưởng tốt

Cá tra là nhóm thủy sản xuất khẩu lớn thứ hai, đạt khoảng 1,3 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026 và tiếp tục duy trì tăng trưởng so với cùng kỳ.

Sản phẩm cá tra rất đa dạng, từ fillet đông lạnh, cá tẩm gia vị, hàng giá trị gia tăng cho đến sản phẩm chế biến sâu phục vụ các chuỗi bán lẻ quốc tế. Giá cá tra cạnh tranh hơn so với các loại cá thịt trắng khác (như cá tuyết, cá minh thái), đáp ứng nhu cầu lớn của phân khúc trung cấp – bình dân.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất với khoảng 357 triệu USD trong 7 tháng, tăng 31% so với cùng kỳ và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tăng trưởng của toàn nhóm. Tuy nhiên, thị trường Mỹ không cho thấy cùng xu hướng. Theo số liệu VASEP cập nhật cho 7 tháng, xuất khẩu cá tra sang Mỹ đạt khoảng 189 triệu USD và giảm 8% so với cùng kỳ.

Cá Tra Xuất Khẩu

Ngoài các thị trường truyền thống, một số khu vực khác cũng cho thấy tín hiệu mở rộng. Xuất khẩu cá tra sang CPTPP đạt khoảng 196 triệu USD trong 6 tháng đầu năm và tăng 15%, trong khi một số thị trường nhỏ như Colombia cũng ghi nhận tăng trưởng cao từ nền thấp hơn.

Xuất khẩu cá tra cũng đối diện một loạt thách thức. Rủi ro của ngành không nằm ở nhu cầu toàn cầu nói chung mà ở khả năng duy trì đơn hàng tại các thị trường giá trị cao như Mỹ, nơi doanh nghiệp còn chịu thêm áp lực từ chống bán phá giá, an toàn thực phẩm và chi phí compliance.

3. Cá ngừ: Đứng top 3 ngành thủy sản xuất khẩu nhưng đang chững

Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam đạt khoảng 544 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 2% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7 đạt gần 90 triệu USD, tăng 30%.

Việt Nam đứng trong top các nước xuất khẩu cá ngừ lớn nhất thế giới. Cá ngừ Việt Nam xuất đi các nước dưới mã HS 03 là cá ngừ tươi, đông lạnh, phi lê và nhóm HS 16 là cá ngừ chế biến, đóng hộp. Tổng quy mô sản lượng cá ngừ Việt Nam hàng năm được ước tính trên 600 nghìn tấn. Tuy nhiên, sản lượng khai thác trong nước chỉ đáp ứng khoảng một phần nhu cầu chế biến, một số nhà máy lớn như An Hải hiện vẫn sử dụng khoảng 90% nguyên liệu cá ngừ nhập khẩu.

Xuất Khẩu Cá Ngừ Việt Nam

2026 không phải một năm tăng trưởng mạnh của toàn ngành cá ngừ. Mức +2% chủ yếu đến từ cú phục hồi cuối kỳ, đặc biệt tại Mỹ - thị trường xuất khẩu cá ngừ quan trọng của Việt Nam. Ngược lại, EU giảm gần 17%, trong khi các thị trường như Nga, Israel, Ai Cập và Canada đang nổi lên nhưng chưa đủ lớn để thay thế hai thị trường truyền thống.

Từ cuối tháng 7/2026, thủy sản Việt Nam chịu thêm 12,5% thuế Section 301 của Mỹ, trong khi một số đối thủ như Ecuador, Indonesia, Mexico và India ở mức 10%. Điều này tạo ra bất lợi trực tiếp về landed cost cho cá ngừ Việt Nam. Ngoài thuế, Mỹ còn siết yêu cầu liên quan tới MMPA, khai thác và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, biên lợi nhuận và khả năng duy trì đơn hàng từ nửa cuối 2026 có thể chịu áp lực mạnh.

4. Cua ghẹ và giáp xác: Phụ thuộc mạnh vào Trung Quốc và Mỹ

Cua ghẹ và các loại giáp xác khác đạt gần 246 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 28,7% so với cùng kỳ 2025. Riêng tháng 7 đạt hơn 41 triệu USD, tăng 51,1%, trở thành một trong những nhóm thủy sản tăng nhanh nhất trong tháng.

Nhu cầu về cua ghẹ và các loại giáp xác đang tăng mạnh tại một số thị trường. Trong quý I/2026, xuất khẩu cua sang Trung Quốc và Hong Kong đạt khoảng 52 triệu USD, tăng 32% và chiếm gần 68% tổng xuất khẩu cua. Riêng Trung Quốc đạt khoảng 51 triệu USD, tăng 31%. Lợi thế của khu vực này nằm ở khoảng cách địa lý gần, thời gian vận chuyển ngắn phù hợp với các loại cua sống, tươi và đông lạnh.

Việt Nam Xuất Khẩu Ghẹ

Tại thị trường Mỹ, NOAA đã cấp lại kết quả công nhận tương đương theo Marine Mammal Protection Act cho các nghề khai thác ghẹ bơi của Việt Nam vào tháng 5/2026, qua đó tháo gỡ một rủi ro tiếp cận thị trường quan trọng cho nhóm hàng này.

Với nhóm cua ghẹ tăng nhanh từ nền thấp, câu hỏi quan trọng là mức tăng có được duy trì qua nhiều tháng hay chỉ tập trung vào một giai đoạn cao điểm. Dữ liệu lịch sử giao dịch trên TradeInt có thể giúp doanh nghiệp kiểm tra tần suất mua của từng importer và phân biệt nhu cầu ổn định với các đợt mua mang tính thời vụ. Đặt lịch demo với TradeInt ngay!

5. Nhuyễn thể có vỏ (nghêu, sò, ốc,...)

Nhuyễn thể có vỏ đạt hơn 178 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026 và tăng khoảng 29,5% so với cùng kỳ, là một trong những nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong cơ cấu thủy sản.

Trong đó, xuất khẩu nghêu đạt gần 83 triệu USD, tăng 17% so với cùng kỳ. Sau giai đoạn chững lại trong tháng 3-4, kim ngạch tăng trở lại từ tháng 5. Khác với nhiều mặt hàng thủy sản khác đang phụ thuộc Mỹ hoặc Trung Quốc, nghêu đang có cấu trúc xuất khẩu nghiêng mạnh về Nam Âu. Riêng Tây Ban Nha, Italy và Bồ Đào Nha đã chiếm hơn 60% kim ngạch xuất khẩu nghêu của Việt Nam.

Trong khoảng thời gian này, xuất khẩu sò điệp cũng tăng khá nhanh, một phần đến từ việc gia công và tái xuất nguyên liệu nhập khẩu.

6. Mực và bạch tuộc

5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu mực, bạch tuộc đạt hơn 302 triệu USD, tăng gần 17% so với cùng kỳ. Đến tháng 7, đà tăng đã chậm lại và riêng tháng 7 nhóm nhuyễn thể chân đầu ghi nhận giảm nhẹ do giá nguyên liệu tăng và nhu cầu chậm lại tại một số thị trường châu Á.

Xuat Khau Muc Bach Tuoc

Hàn Quốc tiếp tục là thị trường chủ đạo của mực, bạch tuộc Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Hàn Quốc nhập khoảng 136,2 triệu USD mực, bạch tuộc từ Việt Nam, tăng 19,3% so với cùng kỳ. Nhật Bản cũng nhập khảng 55,1 triệu USD, tăng 8,7% so với cùng kỳ.

Mực và bạch tuộc là loại hải sản phụ thuộc nhiều vào khai thác tự nhiên. Nguồn cung bạch tuộc toàn cầu đang tương đối hạn chế, tạo áp lực tăng giá nguyên liệu và làm biên lợi nhuận của doanh nghiệp chế biến khó ổn định hơn.

Kết luận

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tăng 11,5% trong 7 tháng đầu năm 2026 nhưng động lực giữa các ngành rất khác nhau. Tôm và cá tra vẫn đóng góp phần lớn vào kim ngạch, trong khi cua ghẹ và nhuyễn thể có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn; cá ngừ gần như đi ngang.

Với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, mức tăng của kim ngạch toàn ngành là tín hiệu đáng chú ý, nhưng chưa đủ để xác định cơ hội. Điều quan trọng hơn là phải tách rõ tăng trưởng đang đến từ cụ thể mặt hàng nào, bởi mỗi phân khúc có thị trường tiêu thụ, yêu cầu sản phẩm và mức độ cạnh tranh khác nhau. Khi đã xác định được nhóm sản phẩm tạo tăng trưởng, doanh nghiệp mới có cơ sở đánh giá thị trường nào phù hợp với năng lực chế biến và danh mục sản phẩm hiện có.

Để xác định cụ thể nhà nhập khẩu thủy sản nào đang tăng mua, mua các mã HS nào, tần suất giao dịch ra sao và họ đang lấy hàng từ những nhà cung cấp nào. TradeInt cung cấp hơn 10 tỷ dữ liệu vận đơn, giúp doanh nghiệp thu hẹp từ danh sách thị trường rộng xuống những buyer thực sự phù hợp để ưu tiên tiếp cận.

Theo dõi TradeInt ngay để cập nhật các tin tức thị trường mới nhất của ngành xuất nhập khẩu!


TRADEINT - NỀN TẢNG TRA CỨU THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU TOÀN CẦU

Giải Pháp Dữ Liệu Giúp Doanh Nghiệp Chinh Phục Thị Trường Quốc Tế

Địa chỉ: Tầng 15, TTC Tower, số 19 Duy Tân, phường Cầu Giấy, Hà Nội.

Hotline/Zalo : (+84) 32 830 8550 - Email: [email protected]

Share this article: