Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 104,69 tỷ USD hàng hóa sang Mỹ, tăng 23% so với cùng kỳ 2025. Đây là thị trường lớn nhất, hấp thụ khoảng 32,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Mặt hàng xuất khẩu chính tập trung ở ngành máy vi tính, điện tử, máy móc và dệt may.
Xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ năm 2026 đạt bao nhiêu?
Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ đạt 104,69 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng gần 19,58 tỷ USD so với mức 85,12 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Như vậy, cứ khoảng 3 USD hàng hóa Việt Nam xuất khẩu thì có hơn 1 USD đi vào thị trường Mỹ.
| Năm | Xuất khẩu sang Mỹ | Nhập khẩu từ Mỹ | Tổng kim ngạch song phương | Thặng dư thương mại |
|---|---|---|---|---|
| 7T/2026 | 104,6 tỷ USD | 13,3 tỷ USD | 118 tỷ USD | 91,4 tỷ USD |
| 7T/2025 | 85,1 tỷ USD | 10,5 tỷ USD | 95,6 tỷ USD | 74,6 tỷ USD |
Cán cân thương mại hai nước đang nghiêng về phía Việt Nam. Trong 7 tháng đầu 2026, thặng dư thương mại Việt Nam - Mỹ đang ở 91,4 tỷ USD. Mỹ là một trong các đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam.
Mỹ nhập khẩu từ Việt Nam những mặt hàng gì năm 2026?
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là nhóm hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ lớn nhất, đạt 33,57 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026. Máy móc đứng thứ hai với 16,83 tỷ USD, tiếp theo là dệt may, điện thoại và giày dép.
Trong gần 19,58 tỷ USD xuất khẩu tăng thêm, riêng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đóng góp khoảng 11,34 tỷ USD, còn máy móc, thiết bị và phụ tùng đóng góp khoảng 3,54 tỷ USD. Hai nhóm này tạo ra hơn ba phần tư mức tăng của xuất khẩu sang thị trường này.
| Mặt hàng | 7T/2026 | Tăng/giảm so với 7T/2025 | Tỷ trọng XK sang Mỹ | Danh sách nhà nhập khẩu theo mặt hàng |
|---|---|---|---|---|
| Máy vi tính, điện tử và linh kiện | 33,57 tỷ USD | +51,0% | 32,1% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
| Máy móc, thiết bị và phụ tùng | 16,83 tỷ USD | +26,6% | 16,1% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
| Hàng dệt may | 10,50 tỷ USD | +2,0% | 10,0% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
| Điện thoại và linh kiện | 7,12 tỷ USD | +10,1% | 6,8% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
| Giày dép | 5,58 tỷ USD | +6,6% | 5,3% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 5,09 tỷ USD | -5,8% | 4,9% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
| Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận | 2,93 tỷ USD | -2,9% | 2,8% | 🔒Mở khóa dữ liệu |
Nguồn: Hải quan Việt Nam
Xuất khẩu năm nhóm top đầu đạt khoảng 73,6 tỷ USD, tương đương hơn 70% xuất khẩu sang Mỹ.
1. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: 33,57 tỷ USD
Mỹ là đầu ra đặc biệt quan trọng của ngành điện tử Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 33,57 tỷ USD máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện sang Mỹ, tăng 51% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 39,4% tổng xuất khẩu toàn ngành.
Việt Nam đang có vị thế đang ngày càng lớn trong chuỗi cung ứng công nghệ của thị trường này. Theo U.S. Census Bureau, Việt Nam đứng thứ 3 trong danh sách các nguồn cung điện tử tại Mỹ, chỉ sau Đài Loan và Mexico.

Sự thay đổi nguồn cung của Mỹ rất rõ. Đối chiếu với cùng kỳ 7 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu điện tử của Mỹ từ Trung Quốc giảm 36,6%. Các nguồn cung tại ASEAN lại ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc: Thái Lan +167%, Malaysia +139%, Việt Nam +51%. Điều này cho thấy Mỹ đang tái phân bổ nguồn cung công nghệ sang các trung tâm sản xuất ngoài Trung Quốc, Việt Nam là một trong các quốc gia được hưởng lợi.
Rủi ro lớn của điện tử Việt Nam là xuất xứ. Xuất khẩu sang Mỹ càng tăng nhanh, doanh nghiệp càng phải chứng minh rõ giá trị sản xuất thực hiện tại Việt Nam thay vì chỉ lắp ráp từ linh kiện nhập khẩu. Đây là điểm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì đơn hàng khi Mỹ đang tăng cường các biện pháp kiểm soát chuỗi cung ứng.
Đọc thêm: Mỹ áp thuế Mục 301: Doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ cần biết gì?
2. Máy móc, thiết bị và phụ tùng: 16,83 tỷ USD
Máy móc là mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ lớn thứ hai và cũng là một trong những nhóm tăng nhanh nhất, đạt 16,83 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ 2025. Thị trường Mỹ hiện chiếm khoảng 41,9% tổng xuất khẩu ngành máy móc Việt Nam.
Cơ hội đến từ chính nhu cầu đầu tư thiết bị tại Mỹ. Trong quý II/2026, đầu tư tư nhân vào máy móc thiết bị của Mỹ ghi nhận mức tăng khá rộng ở thiết bị công nghiệp, thiết bị giao thông và thiết bị xử lý thông tin. Với mã HS 8424 (thiết bị phun, phân tán chất lỏng hoặc bột và phụ tùng), thị phần của Việt Nam đang ở khoảng 11,7% trong giai đoạn tháng 3-7/2026, chỉ sau Mexico và Trung Quốc.
Các đối thủ của Việt Nam trong ngành:
- Mexico: dẫn trước ở điều hòa, tủ lạnh, bơm và van
- Đài Loan: dẫn trước ở linh kiện máy tính;
- Nhật Bản: dẫn trước ở một số thiết bị phục vụ sản xuất bán dẫn.
Mexico có nhiều lợi thế nhờ khoảng cách địa lý ngắn, chuỗi sản xuất Bắc Mỹ tích hợp sâu và khả năng giao hàng nhanh. Với Việt Nam, cơ hội phù hợp hơn nằm ở các linh kiện OEM, phụ tùng và những thiết bị có tỷ lệ giá trị/khối lượng cao mà chi phí vận chuyển không triệt tiêu lợi thế sản xuất.
3. Hàng dệt may: 10,50 tỷ USD
Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 10,50 tỷ USD hàng dệt may sang Mỹ, tăng 2% và chiếm gần 46% tổng xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đây là ngành có mức độ phụ thuộc vào thị trường Mỹ cao nhất.

Theo dữ liệu được USFIA tổng hợp, trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chiếm khoảng 22,2% thị phần nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ, top 1 thị trường, cao hơn Bangladesh (11,3%) và Trung Quốc (9,7%). Mặc dù tổng nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ đang ghi nhận xu hướng giảm nhưng số liệu xuất khẩu dệt may từ Việt Nam sang Mỹ vẫn tăng, cho thấy thị phần của ngành đang có tín hiệu tích cực nhờ hưởng lợi từ sự suy giảm của Trung Quốc.
Mỹ hấp thụ gần một nửa xuất khẩu dệt may Việt Nam nên rủi ro tập trung khá cao. Khi buyer Mỹ điều chỉnh sản lượng, điều chỉnh nguồn cung hoặc chính sách thuế Mỹ có biến động, tác động đến đơn hàng Việt Nam sẽ lớn hơn nhiều thị trường khác.
4. Điện thoại và linh kiện: 7,12 tỷ USD
Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch điện thoại và linh kiện xuất khẩu sang Mỹ đạt khoảng 7,12 tỷ USD, tăng 10,1% và chiếm khoảng 18,5% tổng kim ngạch ngành. Mỹ cũng là thị trường lớn thứ hai sau Trung Quốc của điện thoại và linh kiện Việt Nam.
Năm 2025, Mỹ nhập khoảng 52,0 tỷ USD smartphone theo HS 8517.13, trong đó thị phần của Việt Nam là 11,2% sau Trung Quốc (45,2%) và Ấn Độ (42,3%). Sang 2026, nhờ sự sụt giảm mạnh từ các nguồn cung Trung Quốc, thị phần của Việt Nam tăng mạnh lên 23,5%, đẩy Trung Quốc xuống vị trí thứ 3 (22,3%).
Ở phạm vi rộng hơn HS 8517, bao gồm smartphone, thiết bị mạng và linh kiện viễn thông, Việt Nam thậm chí đang là nguồn cung lớn nhất của Mỹ trong giai đoạn tháng 3-7/2026, với 27,6% thị phần. Thái Lan đứng thứ hai với 18,4%, Ấn Độ 16,2%, Mexico 10,2% và Trung Quốc 8,5%.
So với máy vi tính và linh kiện điện tử, xuất khẩu điện thoại sang Mỹ tăng chậm hơn tương đối, cho thấy tăng trưởng của cụm công nghệ Việt Nam đang nghiêng nhiều hơn về điện tử, linh kiện và các sản phẩm phục vụ chuỗi công nghệ rộng hơn.
5. Giày dép: 5,58 tỷ USD
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,58 tỷ USD giày dép sang Mỹ, tăng 6,6% và chiếm gần 39,4% tổng xuất khẩu giày dép của Việt Nam. Mỹ là đang trở thành điểm tăng trưởng chính của ngành khi tăng trường toàn ngành đang ở mức duy trì (+0,7%).

Theo số liệu được Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương dẫn từ USITC, trong quý I/2026, Việt Nam đã vượt Trung Quốc để trở thành nguồn cung giày dép lớn nhất của Mỹ. Thị phần giày dép của Việt Nam tại Mỹ tăng từ 33,84% lên 40,24% so với cùng kỳ 2025 trong khi thị phần Trung Quốc giảm mạnh từ 33,94% xuống 18,27%.
Giày vải dệt, đặc biệt là giày thể thao, giày da và giày làm từ cao su hoặc nhựa là các nhóm có vị thế mạnh nhất. Với giày vải dệt thuộc nhóm HS 6404, hàng Việt Nam chiếm khoảng 53,2% tổng nhập khẩu của Mỹ. Ở nhóm giày da thuộc HS 6403, thị phần của Việt Nam đạt khoảng 33,6%. Còn với giày làm từ cao su hoặc nhựa thuộc HS 6402, Việt Nam cũng đứng đầu với khoảng 35,7% thị phần.
Doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý gì khi xuất khẩu sang Mỹ?
Với doanh nghiệp đang xuất khẩu sang Mỹ, vấn đề không còn là thị trường có đủ lớn hay không, mà là doanh nghiệp có giữ được lợi thế sau thuế, đáp ứng đúng yêu cầu của buyer và tránh bị thay thế bởi nguồn cung khác hay không.
Trước hết, đánh giá lại sức cạnh tranh theo landed cost thay vì chỉ nhìn giá FOB. Từ tháng 7 năm 2026, Mỹ đã áp thêm thuế Section 301 ở mức 12,5% đối với phần lớn hàng hóa có xuất xứ Việt Nam, trừ các sản phẩm thuộc danh mục miễn. Mức 12,5% không áp dụng với tất cả các quốc gia, do vậy doanh nghiệp cần tính lại tổng chi phí nhập khẩu và so trực tiếp với các nguồn cung cạnh tranh như Mexico, India, Thailand, Indonesia hay China.
Thứ hai, theo dõi buyer có đang thay đổi nguồn cung hay không. Mỹ đang nhập hàng từ Việt Nam ở quy mô rất lớn, nhưng từ phân tích phía trên cho thấy sourcing đang dịch chuyển cùng với biến động của các chính sách thương mại. Doanh nghiệp nên nắm được buyer của mình đang tăng mua từ Việt Nam, giữ nguyên hay bắt đầu chuyển đơn hàng sang quốc gia khác.
Thứ ba, giảm rủi ro khi phụ thuộc quá lớn vào một số buyer hoặc vào riêng thị trường Mỹ. Mỹ đang là thị trường xuất khẩu hàng đầu của nhiều mặt hàng như máy móc, dệt may, điện tử và giày dép. Với mức độ tập trung này, việc một buyer lớn giảm đơn hàng hoặc thay đổi sourcing có thể tác động đáng kể đến doanh thu của doanh nghiệp.
Cuối cùng, xuất xứ và hồ sơ chuỗi cung ứng cần được kiểm soát ngay từ khâu mua nguyên liệu. Điều này đặc biệt quan trọng với điện tử, máy móc, dệt may và đồ gỗ sử dụng nhiều đầu vào nhập khẩu. Doanh nghiệp cần có khả năng chứng minh rõ nguyên liệu đến từ đâu, công đoạn nào được thực hiện tại Việt Nam và giá trị gia tăng thực tế được tạo ra ở đâu.
Với TradeInt, doanh nghiệp có thể đi sâu vào phân tích chi tiết từng quốc gia, từng ngành hàng, từng mã HS để xác định thị trường nào đang tăng mua, buyer nào đang thay đổi nguồn cung và đâu là khách hàng mà doanh nghiệp Việt Nam thực sự có khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Đăng ký dùng thử nền tảng tại đây.
Kết luận
Mỹ đang kéo mạnh tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam năm 2026, nhưng phần tăng không trải đều trên toàn bộ cơ cấu hàng hóa. Điện tử và máy móc đang tăng trưởng nhanh, trong khi dệt may và giày dép tăng chậm hơn, còn một số ngành như gỗ đang có những áp lực đáng kể.
Với doanh nghiệp đang xuất khẩu sang Mỹ, câu hỏi quan trọng không chỉ là “*Mỹ còn tăng nhập khẩu từ Việt Nam hay không?*”, mà là “sản phẩm của doanh nghiệp có đang tăng thị phần, buyer có tiếp tục mua từ Việt Nam và lợi thế hiện tại có đủ bền vững trước các nguồn cung cạnh tranh hay không?” Với những ngành mà Mỹ đã chiếm 40-50% đầu ra, giữ được thị phần và kiểm soát rủi ro xuất xứ quan trọng không kém việc tiếp tục tăng kim ngạch.
TRADEINT - NỀN TẢNG TRA CỨU THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU TOÀN CẦU
Giải Pháp Dữ Liệu Giúp Doanh Nghiệp Việt Nam Chinh Phục Thị Trường Quốc Tế
Địa chỉ: Tầng 15, TTC Tower, số 19 Duy Tân, phường Cầu Giấy, Hà Nội.
Liên hệ : (+84) 32 830 8550 - Email: **[email protected]**
Đặt lịch Demo với TradeInt ngay để trải nghiệm nền tảng miễn phí!