Có ưu đãi bất ngờ cho bạn hôm nay: Nắm bắt ngay!

Hướng dẫn sử dụng dữ liệu vận đơn xuất nhập khẩu

Author: admin | Published: June 7, 2024

News Kinh Nghiệm Xuất Nhập Khẩu Hướng dẫn sử dụng dữ liệu vận đơn xuất nhập khẩu
Hướng dẫn sử dụng dữ liệu vận đơn xuất nhập khẩu

Dữ liệu vận đơn có thể giúp bạn lập danh sách doanh nghiệp cần tìm hiểu và xem lại các tuyến vận chuyển đã được ghi nhận. Muốn dùng đúng, hãy bắt đầu từ ba câu hỏi: dữ liệu lấy từ đâu, mỗi dòng đại diện cho điều gì và nguồn đó bao phủ phần nào của thị trường?

Phân biệt vận đơn với dữ liệu vận đơn

Bill of Lading (B/L) là chứng từ vận tải, không phải một bộ dữ liệu thị trường. Theo International Trade Administration của Hoa Kỳ, vận đơn đường biển có loại không chuyển nhượng được (straight B/L) và loại có thể chuyển nhượng (order B/L). Vì vậy, không nên gọi mọi B/L là “giấy sở hữu hàng hóa”, hay coi bản ghi trong tệp dữ liệu là chứng từ dùng để nhận hàng.

Khi nhận một bộ dữ liệu, cần tách rõ ba lớp:

Lớp thông tin Cần kiểm tra
Chứng từ B/L Loại vận đơn, đơn vị phát hành và thông tin thực sự ghi trên chứng từ
Bản ghi trích từ manifest hoặc nguồn khai báo Quốc gia, chiều thương mại, phương thức vận tải, trường được công bố và trường bị ẩn
Thông tin bổ sung từ nguồn khác Nguồn gốc, ngày cập nhật và cách ghép với bản ghi vận đơn

Số điện thoại, email, điều khoản thanh toán hay Incoterms không phải những trường có thể mặc định là luôn có trong dữ liệu vận đơn. Nếu được cung cấp, hãy hỏi chúng đến từ chứng từ gốc hay một nguồn bổ sung.

Đọc trường dữ liệu trong đúng phạm vi

Ví dụ, 19 CFR 103.31 của Hoa Kỳ quy định việc công bố thông tin manifest đường biển và phân biệt dữ liệu nhập, xuất. Đây không phải quy tắc về độ phủ cho mọi quốc gia. CBP cũng cho phép yêu cầu bảo mật tên, địa chỉ theo điều kiện của quy định; vì thế, một ô trống không đủ để kết luận lô hàng không có bên giao dịch. Nguồn: CBP.

Một điểm dễ đọc nhầm là shipper và consignee. Trong manifest nhập khẩu Hoa Kỳ, các bên này ở cấp master B/L của lô hàng gom có thể là doanh nghiệp giao nhận hoặc NVOCC. Đừng tự động đổi chúng thành “nhà sản xuất” và “người mua cuối cùng”. Nguồn: 19 CFR 4.7a(c)(4).

Thực hành: lập danh sách đối tác để kiểm tra tiếp

Giả sử bạn muốn tìm các bên nhận hàng liên quan đến cà phê trong một nguồn manifest nhập khẩu đường biển Hoa Kỳ. Đây là tình huống minh họa thao tác, không phải kết quả truy vấn hay cam kết về dữ liệu của một nền tảng cụ thể.

1. Chốt bộ lọc trước khi tìm

  • Thị trường: Hoa Kỳ; chiều: nhập khẩu; phương thức: đường biển.
  • Kỳ minh họa: 01/01/2025–30/06/2025. Ghi rõ trường ngày đang dùng là ngày đến dự kiến, ngày đến thực tế hay ngày khai báo; không trộn chúng.
  • Tìm mô tả có coffee, sau đó rà soát để loại kết quả như coffee machine hoặc coffee table nếu mục tiêu là cà phê thực phẩm.
  • Nếu lọc thêm mã HS, kiểm tra mã do nguồn khai báo cung cấp hay do bên bán dữ liệu suy luận. Không gộp hai loại mà bỏ mất nhãn nguồn.

Lưu lại điều kiện lọc, ngày lấy dữ liệu và phiên bản nguồn. Chỉ tiếp tục khi biết nguồn có dữ liệu cho kỳ và trường cần dùng; “không tìm thấy” khác với “không có giao dịch”.

2. Giữ đủ trường để kiểm tra

Trong tệp làm việc, giữ các cột sẵn có: mã bản ghi, số B/L, cấp master/house, ngày và loại ngày, shipper, consignee, mô tả hàng, cảng, số lượng, trọng lượng và đơn vị. Thêm cột ghi chú để đánh dấu tên bị ẩn, thiếu đơn vị hoặc kết quả chưa chắc liên quan đến cà phê.

Không điền ô thiếu bằng số 0. Không cộng trọng lượng trước khi quy đổi về cùng đơn vị, và không cộng trọng lượng lặp ở nhiều dòng nếu đó là tổng của cả vận đơn.

3. Kiểm tra trùng trước khi đếm

Ưu tiên mã bản ghi ổn định do nguồn cung cấp. Nếu không có, thử đối chiếu theo nguồn, bên phát hành, số B/L và trường ngày đã chọn; thêm mã dòng hoặc container khi cấu trúc dữ liệu yêu cầu. Đây là khóa kiểm tra, không phải quy tắc xóa tự động: các dòng cùng B/L có thể vẫn chứa thông tin khác nhau.

Giữ bản gốc và đánh dấu bản sao chỉ khi đã xác nhận trùng. Tách bản sửa đổi, dòng hàng và các cấp master/house; nếu chưa xác định được quan hệ giữa chúng, báo cáo số bản ghi thay vì gọi đó là số lô hàng.

4. Tạo đầu ra có thể dùng được

Nhóm theo consignee sau khi rà soát biến thể tên. Với mỗi nhóm, ghi kỳ có dữ liệu, số B/L theo quy tắc đếm đã chốt, nhóm mô tả hàng và các điểm cần xác minh. Không gộp doanh nghiệp chỉ vì tên gần giống nhau.

Danh sách này dùng để ưu tiên tìm hiểu: đối chiếu website doanh nghiệp, ngành hàng và vai trò trong giao dịch trước khi tiếp cận. Nó không chứng minh doanh nghiệp đang tìm nhà cung cấp mới, có khả năng thanh toán hay nắm một tỷ lệ thị phần nhất định.

Cần hỏi gì trước khi chọn nguồn dữ liệu?

Nếu đang xem giới thiệu dữ liệu thương mại của TradeInt Vietnam, hãy gửi một yêu cầu cụ thể: thị trường, chiều thương mại, khoảng thời gian, nhóm hàng và các trường cần kiểm tra. Đề nghị xác nhận độ phủ, ngày cập nhật gần nhất, quy tắc đếm và quyền sử dụng đầu ra cho đúng gói dữ liệu.

Để theo dõi một lô hàng đang vận chuyển, hãy dùng kênh của hãng vận chuyển hoặc dịch vụ tracking đã được xác nhận. Phân tích lịch sử vận đơn không tự bảo đảm thời gian giao hàng hay việc tuân thủ hải quan.

Một đầu ra tốt không nhất thiết là danh sách dài nhất. Đó là danh sách mà người dùng biết vì sao từng doanh nghiệp được chọn, còn thiếu thông tin gì và cần kiểm tra điều gì trước quyết định tiếp theo.

Share this article: