Có ưu đãi bất ngờ cho bạn hôm nay: Nắm bắt ngay!

Việt Nam Nhập Khẩu Gì Nhiều Nhất? Top 10 Mặt Hàng Chính (2026)

Author: Kelly | Published: August 21, 2026

News Báo Cáo Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Nhập Khẩu Gì Nhiều Nhất? Top 10 Mặt Hàng Chính (2026)
Việt Nam Nhập Khẩu Gì Nhiều Nhất? Top 10 Mặt Hàng Chính (2026)

Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 340,05 tỷ USD hàng hóa, tăng 34,8% so với cùng kỳ 2025. Mức tăng chủ yếu đến từ tư liệu sản xuất, đặc biệt là linh kiện điện tử, máy móc, nhiên liệu và nguyên liệu công nghiệp cho thấy phần lớn dòng hàng nhập khẩu đang phục vụ đầu tư và hoạt động sản xuất. []{.contents}[]

Để trả lời câu hỏi “Việt Nam nhập khẩu gì nhiều nhất?”, dưới đây là 10 nhóm hàng có kim ngạch lớn nhất trong 7 tháng đầu năm 2026:

# Mặt hàng Kim ngạch 7T/2026 So với 7T/2025 Tỷ trọng tổng NK
1 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 135,80 tỷ USD +66,0% 39,9%
2 Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng 41,07 tỷ USD +22,6% 12,1%
3 Vải các loại 8,95 tỷ USD +2,2% 2,6%
4 Kim loại thường khác 8,63 tỷ USD +35,4% 2,5%
5 Chất dẻo nguyên liệu 7,98 tỷ USD +8,8% 2,3%
6 Sản phẩm từ chất dẻo 6,97 tỷ USD +17,4% 2,0%
7 Xăng dầu các loại 6,94 tỷ USD +67,6% 2,0%
8 Sắt thép các loại 6,68 tỷ USD +7,3% 2,0%
9 Hóa chất 5,95 tỷ USD +29,1% 1,8%
10 Điện thoại các loại và linh kiện 5,83 tỷ USD -0,9% 1,7%

Nguồn dữ liệu: Tổng cục Hải quan. []{.contents} []{.contents}

10 nhóm hàng trên đạt khoảng 234,79 tỷ USD, tương đương 69% tổng nhập khẩu. Riêng điện tử và máy móc đã chiếm hơn 52%, cho thấy cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam đang tập trung rất mạnh vào linh kiện và thiết bị phục vụ sản xuất.

Tổng nhập khẩu tăng khoảng 87,75 tỷ USD so với cùng kỳ 2025 nhưng riêng máy vi tính, điện tử và linh kiện tăng gần 54 tỷ USD, đóng góp hơn 60% phần kim ngạch tăng thêm.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện - 135,80 tỷ USD

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất, đạt 135,80 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng gần 66% và chiếm tới 39,9% tổng nhập khẩu.

Đây cũng là nhóm tạo ra phần lớn mức tăng nhập khẩu của cả nước. So với khoảng 81,82 tỷ USD trong 7T/2025, kim ngạch tăng thêm gần 54 tỷ USD chỉ trong một năm. Riêng tháng 7/2026 đạt 25,34 tỷ USD, gần gấp đôi mức 13,85 tỷ USD của tháng 7/2025.

Nguồn cung tập trung rất mạnh vào ba thị trường Đông Á:[]{.contents}

Nguồn cung 7T/2026 Tỷ trọng trong nhóm
Trung Quốc 49,45 tỷ USD 36,4%
Hàn Quốc 36,76 tỷ USD 27,1%
Đài Loan 22,15 tỷ USD 16,3%
Nhật Bản 5,98 tỷ USD 4,4%
Mỹ 3,86 tỷ USD 2,8%

Chỉ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan đã cung cấp khoảng 79,8% tổng nhập khẩu điện tử và linh kiện của Việt Nam. Tăng trưởng nhập khẩu của nhóm ngành năm 2026 cũng chủ yếu đến từ chính ba nguồn này.

Việt Nam không nhập hơn 135 tỷ USD điện tử chỉ để phục vụ tiêu dùng. Phần lớn nhóm này nằm trong chuỗi sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu của ngành điện tử. Bộ Công Thương cũng ghi nhận nhập khẩu tăng mạnh năm 2026 chủ yếu ở máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.

Nhập khẩu dòng hàng này gắn với chuỗi FDI điện tử và bán dẫn. Việt Nam hiện đã thu hút hơn 14,2 tỷ USD FDI vào lĩnh vực bán dẫn qua 241 dự án, có hơn 50 doanh nghiệp thiết kế chip và nhiều dự án đóng gói, kiểm thử. Đầu năm 2026, Việt Nam cũng khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao đầu tiên, trong khi các dự án đóng gói và kiểm thử tiếp tục được mở rộng.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng - 41,07 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu 41,07 tỷ USD máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 22,6% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 12,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đây là nhóm hàng lớn thứ hai, sau điện tử và linh kiện.

Từ tháng 3 đến tháng 7/2026, kim ngạch liên tục duy trì trên 5,5 tỷ USD/tháng và tăng lên gần **6,69 tỷ USD trong tháng 7,** cao hơn đáng kể mức 5,54 tỷ USD của tháng 7/2025.

Nguồn cung máy móc có mức độ tập trung rất cao vào Trung Quốc:

Nguồn cung 7T/2026 Tỷ trọng
Trung Quốc 26,39 tỷ USD 64,3%
Nhật Bản 3,05 tỷ USD 7,4%
Hàn Quốc 2,91 tỷ USD 7,1%
Đức 1,04 tỷ USD 2,5%
Đài Loan 1,02 tỷ USD 2,5%

Trung Quốc giữ vị trí áp đảo với 26,39 tỷ USD, chiếm khoảng 64,3% tổng nhập khẩu máy móc. So với 7T/2025, nhập khẩu máy móc từ Trung Quốc tăng từ khoảng 21,32 tỷ lên 26,39 tỷ USD, tức tăng thêm hơn 5 tỷ USD. Trong khi đó, Nhật Bản chỉ tăng nhẹ từ 2,86 lên 3,05 tỷ USD và Hàn Quốc từ 2,73 lên 2,91 tỷ USD. []{.contents}

Bộ Công Thương cho biết, khu vực FDI chiếm khoảng 69,4% kim ngạch nhập khẩu máy móc trong 5 tháng đầu năm 2026, cho thấy phần lớn nhu cầu thiết bị đang gắn với các dự án và nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài.

Vải các loại - 8,95 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu 8,95 tỷ USD vải trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 2,2% so với cùng kỳ và đứng thứ ba trong các nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất. Quy mô gần như đi ngang, nhưng mức độ phụ thuộc nguồn cung vẫn rất cao.

Bộ Công Thương cho biết ngành dệt may vẫn phải nhập khẩu lượng lớn nguyên phụ liệu do sản xuất vải trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, đặc biệt ở các loại vải có yêu cầu kỹ thuật hoặc chất lượng cao. Điều này giải thích vì sao Việt Nam vừa là nước xuất khẩu dệt may lớn nhưng vẫn nhập gần 9 tỷ USD vải chỉ trong 7 tháng.

Nguồn cung 7T/2026 Tỷ trọng
Trung Quốc 6,27 tỷ USD 70,1%
Đài Loan 831 triệu USD 9,3%
Hàn Quốc 784 triệu USD 8,8%
Nhật Bản 425 triệu USD 4,8%
Thái Lan 123 triệu USD 1,4%

Chỉ riêng ba nguồn Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc đã chiếm khoảng 88% tổng nhập khẩu vải. Đáng chú ý, dù tổng kim ngạch của cả nhóm chỉ tăng 2,2%, nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn tăng thêm khoảng 280 triệu USD, trong khi Đài Loan và Hàn Quốc cùng giảm. Thị phần vải của Trung Quốc tại Việt Nam đã tăng từ khoảng 68,4% lên 70,1%.

Sự phụ thuộc vào vải nhập khẩu còn tác động trực tiếp đến quy tắc xuất xứ. Với các FTA như EVFTA, doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm vải có giá rẻ hay giao nhanh, mà còn phải kiểm tra nguồn nguyên liệu có đáp ứng điều kiện xuất xứ để hàng may mặc được hưởng ưu đãi thuế hay không.

EVFTA áp dụng phổ biến quy tắc xuất xứ **“từ vải trở đi”**, nghĩa là nhập vải từ một nguồn ngoài phạm vi được chấp nhận rồi chỉ thực hiện cắt may tại Việt Nam có thể khiến sản phẩm không đủ điều kiện hưởng ưu đãi. Bộ Công Thương cũng đã ban hành Thông tư 14/2026/TT-BCT cập nhật cơ chế thực hiện quy tắc xuất xứ EVFTA, trong đó có quy định về cộng gộp đối với vải Hàn Quốc theo điều kiện cụ thể. []{.contents}[]

Các kim loại thường - 8,63 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu 8,63 tỷ USD kim loại thường trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 35,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lượng nhập chỉ tăng khoảng 10,5%, cho thấy phần tăng kim ngạch nguyên do đáng kể từ giá và cơ cấu sản phẩm.

Trong 7T/2025, Việt Nam nhập khoảng 1,34 triệu tấn kim loại thường, trị giá 6,38 tỷ USD. Năm 2026, lượng tăng lên khoảng 1,48 triệu tấn, tức tăng hơn 10%, trong khi trị giá tăng hơn 35%.

Nguồn cung 7T/2026 Tăng/giảm so với 7T/2025 Tỷ trọng
Trung Quốc 2,82 tỷ USD +38,3% 32,7%
Hàn Quốc 1,04 tỷ USD +20,3% 12,0%
Australia 833 triệu USD +35,7% 9,7%
Indonesia 751 triệu USD +70,0% 8,7%

Trung Quốc vẫn là nguồn nhập khẩu lớn nhất nhưng chỉ chiếm khoảng một phần ba với 2,82 tỷ USD. Dòng nhập khẩu không chỉ tập trung ở các trung tâm sản xuất châu Á mà còn gắn trực tiếp với những quốc gia có lợi thế tài nguyên và công nghiệp luyện kim.

Mức tăng 35,4% của ngành đặt trong bối cảnh sản xuất công nghiệp đang mở rộng. Trong quý I/2026, chỉ số sản xuất ngành sản xuất kim loại tăng 22,9%, trong khi chế biến, chế tạo tăng 9,7%; đến hết 6 tháng, toàn ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4%. Bộ Công Thương đồng thời ghi nhận nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu tiếp tục tăng để đáp ứng nhu cầu đầu vào của sản xuất.

Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo - 14,95 tỷ USD

Xét chung chuỗi nhựa, Việt Nam nhập khẩu khoảng 14,95 tỷ USD chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo trong 7 tháng đầu năm 2026. Hai nhóm có tốc độ tăng khác nhau, phản ánh hai lớp nhu cầu từ nguyên liệu đầu vào đến linh kiện và sản phẩm đã qua gia công.

Nhóm hàng 7T/2025 7T/2026 Tăng/giảm
Chất dẻo nguyên liệu 7,33 tỷ USD 7,98 tỷ USD +8,8%
Sản phẩm từ chất dẻo 5,94 tỷ USD 6,97 tỷ USD +17,4%
Tổng hai nhóm 13,27 tỷ USD 14,95 tỷ USD +12,7%

Nhập khẩu sản phẩm từ chất dẻo tăng nhanh gần gấp đôi nguyên liệu nhựa. Điều này cho thấy nhu cầu nhập khẩu không chỉ nằm ở resin để sản xuất trong nước, mà còn ở các chi tiết, linh kiện và sản phẩm nhựa đã qua gia công phục vụ nhiều chuỗi sản xuất.

Ở lớp nguyên liệu, lượng nhập khẩu chỉ tăng từ khoảng 5,55 triệu lên 5,66 triệu tấn, tương đương khoảng 2%, trong khi trị giá tăng 8,8%. Trị giá bình quân theo đó tăng từ khoảng 1.320 lên 1.409 USD/tấn, tương đương gần 7%.

Nguồn cung nguyên liệu đang dịch chuyển khá rõ về phía Trung Quốc:

Nguồn cung 7T/2026 Tăng/giảm so với 7T/2025 Tỷ trọng
Trung Quốc 3,27 tỷ USD +48,5% 41,0%
Hàn Quốc 1,20 tỷ USD -4,7% 15,1%
Mỹ 695 triệu USD +5,8% 8,7%
Đài Loan 616 triệu USD -14,9% 7,7%

Trung Quốc hiện là nguồn lớn nhất với 3,27 tỷ USD, tương đương khoảng 41% tổng nhóm hàng. Toàn nhóm chỉ tăng khoảng 647 triệu USD nhưng riêng nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng hơn 1,06 tỷ USD, cao hơn mức tăng ròng của toàn thị trường. Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh chất dẻo và sản phẩm chất dẻo tiếp tục là nhóm nguyên liệu quan trọng phục vụ sản xuất.[]{.contents}

“Chất dẻo nguyên liệu” là một nhóm rất rộng. PE, PP, PVC, PET hay các loại resin kỹ thuật có cấu trúc cung cầu, ứng dụng và giá hoàn toàn khác nhau. Việt Nam thậm chí đã có năng lực sản xuất và xuất khẩu một số loại resin như PET, trong khi vẫn phải nhập khẩu lớn các polymer khác phục vụ bao bì, điện tử, ô tô, gia dụng và nhiều ngành chế biến. Việc Mexico mở điều tra chống bán phá giá PET resin từ Việt Nam trong năm 2026 cũng cho thấy Việt Nam đã không chỉ nhập khẩu mà còn tham gia sâu hơn vào một số phân khúc sản xuất nhựa nguyên liệu.

Ở lớp sản phẩm đã gia công, Trung Quốc cung cấp khoảng 4,48 tỷ USD, tương đương 64,3% tổng nhập khẩu sản phẩm từ chất dẻo; Hàn Quốc đạt 895 triệu USD và Nhật Bản 570 triệu USD. Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào nguồn polymer nhập khẩu mà còn phải nhập lượng lớn thành phẩm và bán thành phẩm nhựa. Với các ngành điện tử, ô tô, thiết bị điện hay cơ khí, đây có thể là những chi tiết được sản xuất theo khuôn, vật liệu và thông số kỹ thuật cụ thể, nên khả năng thay thế không đơn giản như đổi nguồn resin.

Xăng dầu các loại - 6,94 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu khoảng 6,94 tỷ USD xăng dầu trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 67,6% so với cùng kỳ, tăng mạnh nhất trong top 10. Tuy nhiên, lượng nhập chỉ tăng 7,6%, cho thấy phần lớn mức tăng kim ngạch đến từ giá nhập khẩu tăng.

Chỉ tiêu 7T/2025 7T/2026 Thay đổi
Lượng 6,05 triệu tấn 6,51 triệu tấn +7,6%
Trị giá 4,14 tỷ USD 6,94 tỷ USD +67,6%
Trị giá bình quân ~683 USD/tấn ~1.065 USD/tấn +55,8%

Diễn biến theo tháng cho thấy cú tăng giá tập trung khá rõ trong quý II/2026. Tháng 3/2026, Việt Nam nhập 1,18 triệu tấn nhưng phải chi gần 1,49 tỷ USD; tháng 4 lượng giảm xuống 760 nghìn tấn nhưng trị giá vẫn lên tới 1,23 tỷ USD. Nguyên nhân chủ yếu do căng thẳng địa chính trị đẩy giá năng lượng thế giới lên cao.

Nguồn cung năm 2026 tập trung chủ yếu ở các trung tâm lọc hóa dầu trong khu vực:

Nguồn cung 7T/2026 Tăng/giảm so với 7T/2025 Tỷ trọng
Singapore 1,93 tỷ USD +21,5% 27,9%
Hàn Quốc 1,88 tỷ USD +67,1% 27,2%
Malaysia 1,46 tỷ USD +124,0% 21,1%
Trung Quốc 786 triệu USD +42,8% 11,3%
Thái Lan 546 triệu USD +502% 7,9%

Ba nguồn Singapore, Hàn Quốc và Malaysia chiếm khoảng 76% tổng kim ngạch nhập khẩu xăng dầu. Tuy nhiên, thay đổi đáng chú ý nhất nằm ở Malaysia và Hàn Quốc. Nhập khẩu từ Malaysia tăng hơn gấp đôi, từ khoảng 653 triệu lên 1,46 tỷ USD. Trong khi đó, Singapore vẫn đứng đầu nhưng thị phần giảm tương đối cho thấy Việt Nam đã mở rộng cơ cấu mua hàng trong khu vực trong giai đoạn thị trường năng lượng biến động mạnh.

Sự gia tăng nhập khẩu không có nghĩa sản xuất trong nước không đáp ứng được phần lớn nhu cầu. Việt Nam vẫn có hai nhà máy lọc dầu lớn là Nghi Sơn và Bình Sơn, nhưng Bộ Công Thương đồng thời giao tổng nguồn xăng dầu tối thiểu gần 31,8 triệu m³/tấn cho năm 2026 và yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối chủ động nhập khẩu để bảo đảm nguồn cung. Khi xung đột Trung Đông làm gián đoạn một số tuyến vận chuyển và đẩy giá dầu vượt 100 USD/thùng trong đầu năm, cơ chế nhập khẩu đóng vai trò như phần bổ sung và điều tiết cho nguồn sản xuất nội địa.

Sắt thép các loại - 6,68 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu khoảng 9,06 triệu tấn sắt thép, trị giá 6,68 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026. So với cùng kỳ, lượng tăng khoảng 3,8% còn trị giá tăng 7,3%.

Chỉ tiêu 7T/2025 7T/2026 Thay đổi
Lượng nhập khẩu 8,72 triệu tấn 9,06 triệu tấn +3,8%
Trị giá 6,23 tỷ USD 6,68 tỷ USD +7,3%
Trị giá bình quân ~714 USD/tấn ~738 USD/tấn +3,3%

Trung Quốc vẫn chiếm vị trí lớn nhất trong cơ cấu nguồn cung nhập khẩu sắt thép:

Nguồn cung Lượng 7T/2026 Trị giá 7T/2026 Tỷ trọng theo trị giá
Trung Quốc 4,51 triệu tấn 3,09 tỷ USD 46,3%
Indonesia 859 nghìn tấn 1,07 tỷ USD 16,1%
Nhật Bản 1,10 triệu tấn 769 triệu USD 11,5%
Hàn Quốc 865 nghìn tấn 668 triệu USD 10,0%
Ấn Độ 894 nghìn tấn 479 triệu USD 7,2%

Trung Quốc vẫn chiếm gần một nửa kim ngạch tuy nhiên so với 7T/2025, lượng thép nhập từ Trung Quốc giảm từ khoảng 5,13 xuống 4,51 triệu tấn, còn trị giá giảm từ 3,26 xuống 3,09 tỷ USD. Ngược lại, Indonesia tăng từ khoảng 742 nghìn lên 859 nghìn tấn và từ 891 triệu lên 1,07 tỷ USD.

Việt Nam nhập hơn 9 triệu tấn thép không có nghĩa ngành thép trong nước thiếu năng lực sản xuất nói chung. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã sản xuất khoảng 9,7 triệu tấn thép thô, đứng thứ 10 thế giới; sản lượng thép thành phẩm cũng đạt 14,91 triệu tấn, tăng 14,5%. Chiến lược phát triển ngành thép đến năm 2030 của Chính phủ đặt mục tiêu từng bước thay thế nhập khẩu, đặc biệt đối với thép hợp kim, thép dụng cụ và các loại thép đặc biệt phục vụ ngành chế tạo.

Phòng vệ thương mại đang trực tiếp làm thay đổi điều kiện nhập khẩu một số phân khúc thép. Tháng 4/2026, Bộ Công Thương áp dụng biện pháp chống lẩn tránh tạm thời đối với một số thép cán nóng khổ rộng từ Trung Quốc, với mức thuế chống bán phá giá liên quan 27,83%.

Hóa chất - 5,95 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu khoảng 5,95 tỷ USD hóa chất trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 29,1% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng khá mạnh đối với một nhóm nguyên liệu trung gian.

Nguồn cung 7T/2026 Tăng/giảm so với 7T/2025 Tỷ trọng
Trung Quốc 2,73 tỷ USD +32,3% 45,9%
Đài Loan 498 triệu USD +33,1% 8,4%
Malaysia 431 triệu USD +48,6% 7,2%
Hàn Quốc 421 triệu USD tăng mạnh 7,1%
Nhật Bản 404 triệu USD +40,0% 6,8%

Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung chủ đạo với 2,73 tỷ USD, chiếm gần 46% tổng kim ngạch. So với cùng kỳ, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng khoảng 666 triệu USD, tương đương gần một nửa phần tăng thêm của toàn nhóm hóa chất. Tăng trưởng không chỉ đến từ Trung Quốc. Đài Loan tăng hơn 33%, Malaysia gần 49% và Nhật Bản khoảng 40%. Điều này cho thấy nhu cầu hóa chất năm 2026 đang mở rộng trên nhiều chuỗi cung ứng.

Đây cũng là nhóm ngành cần theo dõi yếu tố phòng vệ thương mại. Bộ Công Thương đã xác định hóa chất là một trong các nhóm cần giám sát nhập khẩu để có thể xem xét biện pháp phòng vệ khi xuất hiện bán phá giá, trợ cấp hoặc tác động đáng kể tới ngành sản xuất trong nước.

Điện thoại các loại và linh kiện - 5,83 tỷ USD

Việt Nam nhập khẩu khoảng 5,83 tỷ USD điện thoại và linh kiện trong 7 tháng đầu năm 2026, giảm nhẹ 0,9% so với cùng kỳ. Đây là một trong số ít nhóm nhập khẩu lớn không tăng trong năm 2026

Đáng chú ý vì trong cùng kỳ, xuất khẩu điện thoại và linh kiện của Việt Nam vẫn tăng gần 19%. Nói cách khác, nhập khẩu của nhóm không tăng cùng chiều với xuất khẩu thành phẩm.

Nguồn cung 7T/2026 Tăng/giảm so với 7T/2025 Tỷ trọng 7T/2026
Trung Quốc 4,75 tỷ USD -7,4% 81,6%
Hàn Quốc 264 triệu USD +16,9% 4,5%
Đài Loan 24,4 triệu USD +59,3% 0,4%
Hong Kong 4,7 triệu USD - 0,1%
Nhật Bản 2,8 triệu USD +44,4% <0,1%

[]{.contents}Trung Quốc chiếm tới 81,6% kim ngạch nhập khẩu của nhóm ngành này, tuy nhiên giá trị nhập khẩu đã giảm từ khoảng 5,14 tỷ USD trong 7T/2025 xuống 4,75 tỷ USD năm 2026, trong khi Hàn Quốc tăng từ 226 lên 264 triệu USD và Đài Loan từ 15 lên 24 triệu USD. []{.contents} []{.contents}

Việt Nam đồng thời là một trung tâm sản xuất và xuất khẩu điện thoại lớn. Trong cùng 7 tháng, xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt khoảng 38,50 tỷ USD, cao hơn hơn 6 lần kim ngạch nhập khẩu của chính nhóm hàng này.

Doanh nghiệp nhập khẩu nên sử dụng dữ liệu này như thế nào?

Bảng top 10 cho biết Việt Nam đang mua nhiều loại hàng nào, nhưng không đủ để quyết định doanh nghiệp nên mua hàng từ đâu. Một nhà nhập khẩu cần phân tích đúng mã HS để xác định quốc gia nào đang tăng thị phần, mức độ tập trung nguồn cung, supplier nào thực sự giao hàng đều và liệu nguồn thay thế có đủ quy mô để chuyển đơn hàng hay không.

Với TradeInt, quá trình phân tích có thể đi từ sản phẩm/mã HS → quốc gia nguồn cung → supplier → doanh nghiệp Việt Nam đang mua → lịch sử giao dịch → quy mô và tần suất → nguồn thay thế. Giá trị của dữ liệu không nằm ở việc tạo ra một danh sách supplier dài hơn, mà ở khả năng lọc ra những nhà cung cấp đã có năng lực được chứng minh bằng giao dịch thực tế và xác định nguồn nào thực sự có thể giảm chi phí hoặc rủi ro sourcing. Liên hệ đội ngũ tư vấn TradeInt

Kết luận

Việt Nam nhập khẩu hơn 340 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, mức tăng 34,8% chủ yếu tập trung ở nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Riêng điện tử chiếm gần 40% tổng kim ngạch và tạo hơn 60% phần tăng nhập khẩu; máy móc đứng thứ hai với hơn 41 tỷ USD; các vị trí tiếp theo là vải, kim loại, nhựa, nhiên liệu, thép và hóa chất.

Vì vậy, với doanh nghiệp nhập khẩu, câu hỏi có giá trị hơn “Việt Nam nhập khẩu gì nhiều nhất?” là: mặt hàng doanh nghiệp đang mua phụ thuộc vào nguồn nào, có bao nhiêu supplier thực sự thay thế được và chi phí chuyển sang nguồn khác có đáng hay không. Đây là lớp dữ liệu cần thiết để biến thống kê thương mại thành quyết định sourcing thực tế.


TRADEINT - NỀN TẢNG TRA CỨU THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU TOÀN CẦU

Giải Pháp Dữ Liệu Giúp Doanh Nghiệp Việt Nam Chinh Phục Thị Trường Quốc Tế

Địa chỉ: Tầng 15, TTC Tower, số 19 Duy Tân, phường Cầu Giấy, Hà Nội.

Liên hệ : (+84) 32 830 8550 - Email: [email protected]

Đặt lịch Demo với TradeInt ngay để trải nghiệm nền tảng miễn phí!

Share this article: