Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, từ đầu năm đến hết ngày 15/06/2026, Việt Nam đã xuất khẩu 633.573 tấn xăng dầu các loại, trị giá 616.095.447 USD. Kết thúc 6 tháng, Việt Nam xuất khẩu 700.090 tấn xăng dầu các loại, trị giá 691,313 triệu USD. Nhưng với doanh nghiệp, con số tổng chưa phải phần đáng quan tâm nhất. Điều đáng đọc nằm ở phía sau dữ liệu: thị trường nào đang mua, nhu cầu đang dịch chuyển ra sao và doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để một cơ hội thị trường thực sự trở thành một giao dịch có thể thực hiện.
Xuất khẩu xăng dầu Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 đạt 691,3 triệu USD
Theo bảng thống kê sơ bộ 6 tháng năm 2026 của Cục Hải quan, Việt Nam xuất khẩu 700.090 tấn xăng dầu các loại, tương ứng 691,313 triệu USD.
Nhìn theo từng tháng, thị trường không đi theo một đường thẳng.

Tháng 3 là điểm nổi bật nhất khi chiếm gần 39% tổng lượng xuất khẩu của cả 6 tháng. Sau mức tăng này, lượng xuất khẩu tháng 4 giảm còn 108.332 tấn và tháng 5 còn 90.256 tấn, trước khi phục hồi lên 114.295 tấn trong tháng 6.
Một tín hiệu khác cũng đáng chú ý. Dù lượng xuất khẩu tháng 6 thấp hơn rất nhiều so với tháng 3, trị giá vẫn đạt 146,87 triệu USD, tương đương khoảng 63% mức của tháng 3.
Xăng dầu Việt Nam đang được xuất khẩu sang những thị trường nào?
Nếu chỉ nhìn tổng kim ngạch 691,3 triệu USD, doanh nghiệp biết thị trường có quy mô nhưng chưa biết cơ hội nằm ở đâu. Khi tách dữ liệu theo quốc gia, cấu trúc thị trường bắt đầu rõ hơn.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các thị trường được Hải quan thống kê nổi bật gồm Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan và Campuchia.
.webp?width=2240&height=1260)
Riêng năm thị trường này tiếp nhận khoảng 606.852 tấn, tương đương gần 86,7% tổng lượng xăng dầu xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu năm.
Hàn Quốc và Trung Quốc tăng mạnh trong quý II, nhưng chưa đủ cơ sở để xem là nhu cầu ổn định
Hàn Quốc đạt 164.736 tấn, trị giá 191,113 triệu USD trong 6 tháng. Riêng tháng 4 ghi nhận 107.481 tấn, chiếm khoảng 65% tổng lượng xuất khẩu sang thị trường này trong cả kỳ. Sau đó, lượng hàng giảm còn 25.427 tấn vào tháng 5 và 31.828 tấn trong tháng 6.
Trung Quốc cũng tập trung phần lớn lượng mua vào tháng 4, với 96.117 tấn, tương đương gần 69% tổng lượng xuất khẩu sang thị trường này trong 6 tháng. Lượng hàng giảm xuống 12.036 tấn trong tháng 5 rồi tăng lên 32.105 tấn vào tháng 6. Tổng cộng, Trung Quốc nhận 140.258 tấn, trị giá 164,865 triệu USD.
Singapore và Thái Lan phản ánh nhu cầu khu vực đều hơn
Singapore đạt 116.487 tấn, trị giá 72,865 triệu USD. Khác với Hàn Quốc và Trung Quốc, dòng hàng sang Singapore xuất hiện trong cả 6 tháng. Lượng xuất khẩu tăng từ 10.284 tấn trong tháng 1 lên 36.691 tấn trong tháng 6, mức cao nhất trong kỳ.
Diễn biến này phù hợp với vai trò của Singapore như một trung tâm lọc hóa dầu, lưu trữ và trung chuyển nhiên liệu lớn trong khu vực. Vì vậy, hàng xuất sang Singapore không nhất thiết chỉ phục vụ nhu cầu tiêu thụ cuối cùng tại thị trường này. Một phần giao dịch có thể gắn với hoạt động pha trộn, lưu kho, tái xuất hoặc phân phối tiếp trong mạng lưới khu vực. Khi đánh giá buyer Singapore, doanh nghiệp cần phân biệt giữa người sử dụng cuối, nhà kinh doanh hàng hóa, đơn vị lưu trữ và bên trung chuyển.

Thái Lan đạt 108.472 tấn, trị giá 86,015 triệu USD. Lượng xuất khẩu sang thị trường này đã xuất hiện từ tháng 1 và tháng 2, lần lượt đạt 26.315 và 25.558 tấn. Sau đó, dòng hàng giảm trong tháng 3 và tháng 4, trước khi tăng trở lại lên 22.104 tấn trong tháng 5 và 20.170 tấn trong tháng 6.
Campuchia là thị trường khu vực có nhu cầu tương đối đều
Campuchia tiếp nhận 76.899 tấn xăng dầu, trị giá 76,721 triệu USD trong 6 tháng đầu năm 2026. Dù đứng sau Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và Thái Lan về lượng nhập khẩu, thị trường này vẫn chiếm khoảng 11% tổng lượng xuất khẩu xăng dầu của Việt Nam trong kỳ.
Dòng hàng sang Campuchia xuất hiện trong nhiều tháng, thay vì tập trung vào một đỉnh giao dịch duy nhất. Lượng xuất khẩu đạt 14.215 tấn trong tháng 1, tăng lên 18.426 tấn trong tháng 2, sau đó duy trì ở mức 10.000–13.000 tấn mỗi tháng từ tháng 3 đến tháng 6. Diễn biến này cho thấy nhu cầu có tính liên tục hơn so với các thị trường ghi nhận phần lớn lượng mua trong một tháng riêng lẻ.

Lợi thế của Campuchia nằm ở vị trí liền kề, khoảng cách vận chuyển ngắn và khả năng tổ chức các lô hàng đường bộ hoặc đường thủy linh hoạt.
Việt Nam xuất khẩu ra thế giới những loại xăng dầu nào?
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 700.090 tấn xăng dầu các loại, trị giá 691,313 triệu USD. Nhưng Việt Nam đang xuất khẩu ra thế giới những loại xăng dầu nào? Câu trả lời không chỉ là xăng động cơ. Nhóm hàng này bao gồm nhiều sản phẩm dầu mỏ khác nhau, được phân biệt theo thành phần, công dụng và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Các nhóm sản phẩm Việt Nam xuất khẩu gồm xăng động cơ, dầu diesel, dầu hỏa, nhiên liệu hàng không, dầu mazut và các loại fuel oil. Phần lớn được định tuyến từ nhóm HS 2710, bao gồm dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các chế phẩm liên quan.
Năng lực cung ứng xăng dầu trong nước có đáp ứng nhu cầu không?
Việt Nam xuất khẩu xăng dầu không có nghĩa nguồn cung trong nước luôn dư thừa. Việt Nam hiện có hai nhà máy lọc dầu thương mại chủ lực là Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Công suất thiết kế của Dung Quất khoảng 6,5 triệu tấn dầu thô mỗi năm, tương đương khoảng 148.000 thùng/ngày. Nghi Sơn có công suất thiết kế khoảng 10 triệu tấn dầu thô mỗi năm, tương đương khoảng 200.000 thùng/ngày. Nếu vận hành theo công suất thiết kế, tổng năng lực xử lý của hai nhà máy vào khoảng 16,5 triệu tấn dầu thô mỗi năm, tương đương khoảng 348.000 thùng/ngày.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 700.090 tấn xăng dầu các loại, trị giá 691,313 triệu USD. Lượng xuất khẩu tăng mạnh trong tháng 3, đạt 272.250 tấn, sau đó duy trì ở mức 90.000 đến 114.000 tấn mỗi tháng trong quý II.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng là một quốc gia nhập khẩu xăng dầu với khối lượng lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng nhập khẩu xăng dầu các loại của Việt Nam ước đạt khoảng 6,4 triệu tấn. Các nhà máy trong nước có thể xuất khẩu một số sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường khu vực, nhưng doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải nhập khẩu loại nhiên liệu khác để đáp ứng nhu cầu nội địa. Chúng khác nhau về chủng loại, chỉ tiêu kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và nguồn phối trộn.
Kết luận
Việt Nam vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu xăng dầu vì sản lượng, chủng loại, tiêu chuẩn, nhu cầu và thời điểm cung ứng không hoàn toàn trùng khớp. Hoạt động xuất khẩu cho thấy Việt Nam có năng lực tham gia thị trường khu vực, nhưng không đồng nghĩa mọi loại nhiên liệu trong nước đều dư thừa.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 700.090 tấn xăng dầu các loại, tập trung chủ yếu tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan và Campuchia.
Câu hỏi thường gặp về xuất khẩu xăng dầu
Xuất khẩu xăng dầu có phải ngành kinh doanh có điều kiện không?
Có. Kinh doanh xăng dầu là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, điều kiện áp dụng còn phụ thuộc vào vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi kinh doanh, chẳng hạn như thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối, tổng đại lý hoặc đại lý bán lẻ.
Làm sao để mở rộng thị trường và tệp khách hàng nhập khẩu xăng dầu?
Doanh nghiệp có thể kết hợp thống kê Hải quan với dữ liệu thương mại chi tiết theo sản phẩm, HS, quốc gia, importer và tuyến vận chuyển. TradeInt hỗ trợ workflow này bằng cách giúp doanh nghiệp thu hẹp dữ liệu từ thị trường tổng thể xuống các giao dịch và đối tác phù hợp với sản phẩm cần nghiên cứu.
Xuất khẩu xăng dầu có phụ thuộc vào tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu không?
Câu trả lời là có. Tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xuất khẩu xăng dầu của doanh nghiệp. Mỗi thị trường có thể áp dụng yêu cầu riêng về trị số octan, hàm lượng lưu huỳnh, thành phần nhiên liệu, độ ổn định, chỉ tiêu an toàn và phương pháp kiểm định.