Có ưu đãi bất ngờ cho bạn hôm nay: Nắm bắt ngay!

Xuất Khẩu Thủy Sản: Thị trường, Mặt hàng chủ lực & Triển vọng 2026

Author: TradeInt Editorial | Published: August 18, 2026

News Báo Cáo Xuất Nhập Khẩu Xuất Khẩu Thủy Sản: Thị trường, Mặt hàng chủ lực & Triển vọng 2026
Xuất Khẩu Thủy Sản: Thị trường, Mặt hàng chủ lực & Triển vọng 2026

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 6,86 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 7 đạt khoảng 1,1 tỷ USD, đánh dấu tháng thứ tư liên tiếp kim ngạch duy trì quanh hoặc trên ngưỡng 1 tỷ USD.

Về thị trường, Trung Quốc là điểm đến lớn nhất trong dữ liệu TradeInt với khoảng 1,65 tỷ USD, tương đương 24% tổng kim ngạch, tiếp theo là Mỹ với 1,07 tỷ USD và Nhật Bản với 941,8 triệu USD. Ba thị trường này cộng lại chiếm khoảng 53,4% giá trị xuất khẩu, cho thấy cơ cấu đầu ra vẫn tập trung đáng kể vào một số thị trường lớn.

Về mặt hàng, tôm tiếp tục là nhóm đóng góp lớn nhất, đạt gần 2,78 tỷ USD trong 7 tháng và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch. Cá tra đứng sau với khoảng 1,3 tỷ USD, trong khi cá ngừ đạt gần 524 triệu USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm không đồng đều: tôm và cá tra vẫn tăng, còn cá ngừ giảm nhẹ so với cùng kỳ.

Quan trọng hơn, kết quả 7 tháng cho thấy xuất khẩu vẫn duy trì được động lượng tích cực, nhưng không nên đọc con số 6,86 tỷ USD như một tín hiệu tăng trưởng đồng đều. Để đánh giá triển vọng thực tế, doanh nghiệp cần nhìn đồng thời vào diễn biến theo tháng, cơ cấu thị trường, mặt hàng tạo tăng trưởng và hoạt động mua của các importer tại từng thị trường.

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt bao nhiêu trong 7 tháng đầu năm 2026?

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 6,859 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, với kim ngạch bình quân khoảng 980 triệu USD mỗi tháng và tháng 7 ghi nhận mức cao nhất trong dữ liệu hiện tại.

Cụ thể, dữ liệu theo tháng cho thấy thị trường trải qua một nhịp giảm mạnh vào tháng 2 trước khi phục hồi từ tháng 3 và duy trì tương đối ổn định trong bốn tháng gần nhất.

Bảng dưới đây thể hiện kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ tháng 1 đến tháng 7/2026 theo dữ liệu hải quan

Tháng Kim ngạch xuất khẩu
Tháng 1 1,011 tỷ USD
Tháng 2 706,7 triệu USD
Tháng 3 921,9 triệu USD
Tháng 4 1,011 tỷ USD
Tháng 5 1,017 tỷ USD
Tháng 6 1,091 tỷ USD
Tháng 7 1,101 tỷ USD
Tổng 7 tháng 6,859 tỷ USD

Nguồn dữ liệu: Tổng cục hải quan

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở tổng kim ngạch 6,86 tỷ USD. *Cấu trúc theo thời gian cho thấy xuất khẩu đã trở lại vùng ổn định hơn sau tháng 2.* Từ tháng 4 đến tháng 7, kim ngạch hàng tháng đều vượt 1 tỷ USD, trong đó tháng 6 và tháng 7 lần lượt đạt khoảng 1,09 tỷ USD và 1,10 tỷ USD.

Dữ liệu từ VASEP cũng xác nhận tháng 7/2026 đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ, đưa tổng kim ngạch 7 tháng lên gần 6,86 tỷ USD, tăng 11,5% YoY.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, số liệu xuất khẩu hàng tháng quan trọng không kém con số lũy kế. Một thị trường đạt kim ngạch cao nhờ một hoặc hai tháng tăng đột biến sẽ tạo tín hiệu khác với trường hợp kim ngạch được duy trì ổn định qua nhiều tháng. Trong dữ liệu hiện tại, giai đoạn tháng 4 đến tháng 7 cho thấy tính ổn định rõ hơn so với quý đầu năm.

Khi đánh giá sức khỏe của ngành thủy sản xuất khẩu, TradeInt không chỉ nhìn vào câu hỏi “kim ngạch tăng bao nhiêu?” mà còn xem tăng trưởng được duy trì như thế nào theo thời gian. Điều này giúp phân biệt một nhịp tăng mang tính thời điểm với một dòng thương mại có tính liên tục.

Những thị trường nào nhập khẩu nhiều thủy sản từ Việt Nam nhất?

5 thị trường nổi bật gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, trong đó Trung Quốc dẫn đầu với 1,65 tỷ USD, cao hơn đáng kể so với các điểm đến còn lại.

Cụ thể hơn, quy mô thị trường không chỉ cho thấy nơi thủy sản Việt Nam đang được tiêu thụ nhiều nhất mà còn phản ánh mức độ tập trung của dòng xuất khẩu.

Thị trường Kim ngạch 7 tháng 2026 Tỷ trọng trong tổng kim ngạch
Trung Quốc 1,649 tỷ USD 24,0%
Mỹ 1,073 tỷ USD 15,6%
Nhật Bản 941,8 triệu USD 13,7%
Hàn Quốc 483,8 triệu USD 7,1%
Australia 214,5 triệu USD 3,1%

Nguồn dữ liệu: Tổng cục hải quan

Trung Quốc một mình chiếm khoảng một phần tư tổng kim ngạch, trong khi Mỹ và Nhật Bản lần lượt đóng góp khoảng 15,6% và 13,7%. Ba thị trường đầu tiên cộng lại chiếm khoảng 53,4%, còn top 5 chiếm khoảng 63,6% tổng giá trị xuất khẩu.

Điểm quan trọng đối với doanh nghiệp không chỉ là thứ hạng. Mỗi thị trường có quy mô, mức độ ổn định và diễn biến theo tháng khác nhau, vì vậy cần phân tích riêng trước khi đánh giá mức độ hấp dẫn đối với từng mặt hàng thủy sản.

Trung Quốc: Thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam lớn nhất

Trung Quốc là thị trường lớn nhất với kim ngạch khoảng 1,65 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, chiếm khoảng 24% tổng xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Kim ngạch sang Trung Quốc duy trì ở quy mô lớn trong cả 7 tháng, dao động từ khoảng 215 triệu USD đến 258 triệu USD mỗi tháng. Tháng 7 đạt gần 257,9 triệu USD, cao nhất trong giai đoạn được thống kê.

Xuat Khau Thủy Sản

Đáng chú ý, Trung Quốc không chỉ đứng đầu về tổng giá trị mà còn có dòng nhập khẩu tương đối ổn định. Ngay cả tháng 2, khi tổng xuất khẩu thủy sản Việt Nam giảm mạnh, kim ngạch sang Trung Quốc vẫn đạt khoảng 245,3 triệu USD, cao hơn tháng 1.

Tăng trưởng chung của ngành đang phụ thuộc khá lớn vào thị trường Trung Quốc và Hong Kong. Theo dữ liệu VASEP, nhóm thị trường này tăng 34,5% trong 7 tháng và đóng góp hơn 445 triệu USD giá trị tăng thêm; nếu loại phần tăng này, bức tranh tăng trưởng của toàn ngành sẽ kém tích cực hơn đáng kể.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, quy mô 1,65 tỷ USD là tín hiệu để tiếp tục đi sâu vào mặt hàng cụ thể, mã HS, nhà nhập khẩu đang hoạt động và nguồn cung hiện tại của họ. Một thị trường lớn ở cấp toàn ngành chưa đồng nghĩa mọi nhóm thủy sản đều có cùng mức cầu.

Trung Quốc Nhập Khẩu Gì Từ Việt Nam? Top Các Mặt Hàng Chủ lực

Mỹ: Thị trường lớn thứ hai và phục hồi mạnh sau tháng 2

Mỹ là thị trường lớn thứ hai với kim ngạch khoảng 1,07 tỷ USD, tương đương 15,6% tổng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026.

Khác với Trung Quốc, xuất khẩu sang Mỹ có biến động rõ hơn trong đầu năm. Kim ngạch giảm từ 128,4 triệu USD trong tháng 1 xuống 80,9 triệu USD trong tháng 2, sau đó phục hồi liên tục lên 134 triệu USD trong tháng 3 và 172,2 triệu USD trong tháng 4.

Từ tháng 4 đến tháng 7, giá trị xuất khẩu sang Mỹ duy trì ở vùng cao hơn, dao động khoảng 172 đến 189 triệu USD mỗi tháng. Tháng 6 đạt mức cao nhất khoảng 188,8 triệu USD trước khi giảm nhẹ xuống 182,1 triệu USD trong tháng 7.

Đáng chú ý ở thị trường Mỹ là quy mô nhập khẩu đã phục hồi rõ sau tháng 2 và duy trì tương đối ổn định trong bốn tháng gần nhất.

Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên chỉ nhìn vào tổng kim ngạch hơn 1 tỷ USD. Mỹ là thị trường có sự khác biệt lớn giữa từng dòng sản phẩm, vì vậy việc phân tích đúng mã HS, importer đang mua và nhà cung cấp hiện tại sẽ quan trọng hơn việc sử dụng tổng kim ngạch toàn ngành để ra quyết định.

Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ các mặt hàng gì?

Nhật Bản: Quy mô gần Mỹ nhưng dòng nhập khẩu ổn định hơn

Nhật Bản đạt khoảng 941,8 triệu USD trong 7 tháng, chiếm 13,7% tổng kim ngạch và chỉ thấp hơn Mỹ khoảng 131 triệu USD.

Kim ngạch sang Nhật Bản giảm mạnh từ 149,8 triệu USD trong tháng 1 xuống 83,4 triệu USD trong tháng 2, nhưng phục hồi về trên 130 triệu USD từ tháng 3. Tháng 6 đạt mức cao nhất khoảng 163,1 triệu USD, sau đó giảm còn 141,3 triệu USD trong tháng 7.

Từ tháng 3 đến tháng 7, kim ngạch chủ yếu dao động trong khoảng 132 đến 163 triệu USD mỗi tháng, cho thấy mức độ ổn định khá cao sau biến động đầu năm.

Một điểm đáng chú ý là khoảng cách tổng kim ngạch giữa Nhật Bản và Mỹ không lớn. Mỹ chiếm 15,6% trong khi Nhật Bản chiếm 13,7%, cho thấy hai thị trường này đang nằm trong cùng một nhóm quy mô, thấp hơn Trung Quốc nhưng cao hơn đáng kể so với Hàn Quốc và Australia.

Đối với doanh nghiệp, Nhật Bản vì vậy không nên chỉ được xem là “thị trường thứ ba”. Khi lựa chọn giữa Mỹ và Nhật Bản, cần phân tích sâu hơn nhu cầu của đúng sản phẩm, quy mô buyer và mức độ phù hợp với tiêu chuẩn nhập khẩu của từng thị trường.

Hàn Quốc: Thị trường quy mô trung bình nhưng duy trì khá đều

Hàn Quốc đạt khoảng 483,8 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026, chiếm khoảng 7,1% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Sau khi giảm xuống 37,7 triệu USD trong tháng 2, kim ngạch sang Hàn Quốc phục hồi lên 68,4 triệu USD trong tháng 3 và duy trì quanh 70 đến 81 triệu USD mỗi tháng từ tháng 4 đến tháng 7.

Tháng 6 đạt khoảng 80,7 triệu USD, cao nhất trong 7 tháng, trước khi giảm xuống 72,2 triệu USD trong tháng 7.

So với ba thị trường dẫn đầu, quy mô của Hàn Quốc nhỏ hơn đáng kể. Tuy nhiên, dữ liệu từ tháng 3 trở đi cho thấy dòng nhập khẩu tương đối đều, thay vì phụ thuộc vào một tháng tăng đột biến.

Đối với doanh nghiệp tìm thị trường ngoài top 3, đây là đặc điểm đáng quan tâm. Một thị trường có quy mô nhỏ hơn nhưng hoạt động mua đều có thể phù hợp với một số nhóm sản phẩm hoặc doanh nghiệp hơn thị trường rất lớn nhưng cạnh tranh cao. Việc đánh giá cần tiếp tục ở cấp nhà nhập khẩu và mặt hàng.

Australia: Quy mô nhỏ nhất trong top 5 nhưng tháng 7 đạt mức cao nhất

Australia đạt khoảng 214,5 triệu USD trong 7 tháng, tương đương 3,1% tổng kim ngạch và là thị trường nhỏ nhất trong top 5 hiện tại.

Kim ngạch dao động từ 19,6 triệu USD trong tháng 2 đến gần 38 triệu USD trong tháng 7, mức cao nhất của Australia trong giai đoạn được thống kê.

Sau tháng 2, giá trị xuất khẩu phần lớn duy trì quanh 29 đến 33 triệu USD mỗi tháng, trước khi tăng lên 38 triệu USD trong tháng 7.

Khác với Trung Quốc hay Mỹ, Australia chưa phải thị trường có quy mô đủ lớn để tác động mạnh đến tổng kim ngạch, nhưng diễn biến tháng gần nhất cho thấy đây là thị trường đáng theo dõi nếu mức nhập khẩu cao hơn được duy trì.

Đối với doanh nghiệp, một thị trường nhỏ hơn như Australia cũng có thể tạo cơ hội nếu có nhóm buyer phù hợp, mức độ cạnh tranh thấp hơn hoặc nhu cầu tập trung vào đúng sản phẩm doanh nghiệp có thế mạnh.

Việt Nam xuất khẩu Thủy sản đi các nước nào năm 2025?

Những mặt hàng nào đang dẫn dắt xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2026?

Tôm, cá tra và cá ngừ là ba nhóm thủy sản có quy mô xuất khẩu lớn nhất trong 7 tháng đầu năm 2026, trong khi cua ghẹ và nhuyễn thể có vỏ nổi bật nhờ tốc độ tăng trưởng cao. Theo VASEP, tôm đạt gần 2,78 tỷ USD, cá tra khoảng 1,3 tỷ USD và cá ngừ gần 524 triệu USD.

Điểm quan trọng là quy mô và tốc độ tăng trưởng không giống nhau giữa các mặt hàng. Tôm tiếp tục quyết định phần lớn tăng trưởng toàn ngành nhờ kim ngạch lớn, cá tra giữ vai trò trụ cột thứ hai, còn cá ngừ đang chịu áp lực khi giá trị xuất khẩu giảm nhẹ. Ngược lại, một số nhóm nhỏ hơn như cua ghẹ và nhuyễn thể có vỏ đang tăng nhanh hơn nhưng chưa đủ quy mô để thay đổi cơ cấu chung.

Bảng dưới đây giúp phân biệt rõ giữa mặt hàng có quy mô lớnmặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao:

Mặt hàng Kim ngạch 7T/2026 So với cùng kỳ
Tôm ~ 2,78 tỷ USD +12,6%
Cá tra ~ 1,3 tỷ USD Khoảng +10%
Cá ngừ ~ 524 triệu USD -1,4%
Cua ghẹ và giáp xác khác ~ 246 triệu USD +28,7%
Nhuyễn thể có vỏ ~ 178 triệu USD +29,5%

Nguồn: VASEP, số liệu lũy kế 7 tháng đầu năm 2026.

Tôm: Mặt hàng dẫn đầu với gần 2,78 tỷ USD xuất khẩu

Tôm là mặt hàng thủy sản xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026, đạt gần 2,78 tỷ USD, tăng 12,6% và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch thủy sản.

Quy mô gần 2,8 tỷ USD khiến tôm nằm ở một nhóm riêng so với các mặt hàng còn lại. Giá trị xuất khẩu tôm lớn hơn gấp đôi cá tra và hơn năm lần cá ngừ, vì vậy ngay cả mức tăng trưởng 12,6% cũng tạo ra đóng góp đáng kể vào phần kim ngạch tăng thêm của toàn ngành.

Xuat Khau Tom Di Eu

Điểm đáng chú ý hơn nằm ở cơ cấu tăng trưởng bên trong ngành tôm. VASEP cho biết tôm hùm, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc, đang tạo động lực đáng kể. Riêng 5 tháng đầu năm, tôm hùm xanh xuất sang Trung Quốc đạt khoảng 503,9 triệu USD và chiếm gần như toàn bộ giá trị tôm hùm xuất sang thị trường này.

Trong khi đó, các dòng tôm phổ biến như tôm chân trắng và tôm sú phải cạnh tranh trực tiếp hơn tại những thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản. Áp lực cạnh tranh đáng chú ý đến từ Ecuador, đặc biệt ở tôm chân trắng. Vấn đề không chỉ nằm ở nguồn cung lớn và giá cạnh tranh, mà còn ở việc các nhà cung cấp Ecuador đang mở rộng sang các sản phẩm bóc vỏ và chế biến sâu. Điều này khiến cạnh tranh với Việt Nam dịch chuyển từ phân khúc nguyên liệu sang cả những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, điều quan trọng là không đánh đồng toàn bộ ngành tôm. Tôm chân trắng đông lạnh, tôm sú và tôm hùm có cấu trúc nhu cầu, thị trường đích và mức độ cạnh tranh khác nhau, nên cần được đánh giá như những phân khúc riêng.

Các thị trường xuất khẩu tôm của Việt Nam

Cá tra: Trung Quốc là động lực tăng trưởng chính

Cá tra là nhóm xuất khẩu lớn thứ hai, đạt khoảng 1,3 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026 và tiếp tục duy trì tăng trưởng so với cùng kỳ.

Điểm nổi bật nhất của cá tra năm 2026 là sự khác biệt rõ giữa các thị trường. Trung Quốc tiếp tục là điểm đến lớn nhất với khoảng 357 triệu USD trong 7 tháng, tăng 31% so với cùng kỳ và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tăng trưởng của toàn nhóm.

Ngoài tăng trưởng tại Trung Quốc, cá tra còn có một dư địa khác tại EU khi chi phí một số loại cá thịt trắng khai thác như cod và pollock duy trì ở mức cao. Điều này có thể mở thêm nhu cầu cho cá tra ở các dòng sản phẩm cắt phần, tẩm bột và chế biến sẵn, thay vì chỉ tập trung vào phi lê đông lạnh.

Ngược lại, thị trường Mỹ không cho thấy cùng xu hướng. Theo số liệu VASEP cập nhật cho 7 tháng, xuất khẩu cá tra sang Mỹ đạt khoảng 189 triệu USD và giảm 8% so với cùng kỳ.

Cá Tra Xuất Khẩu

Sự phân hóa này tạo ra một insight quan trọng:

Cá tra vẫn tăng ở cấp toàn ngành, nhưng tăng trưởng không đến đồng đều từ tất cả thị trường.

Do đó, một doanh nghiệp cá tra không nên sử dụng mức tăng tổng thể khoảng 10% để đánh giá nhu cầu tại từng quốc gia. Nếu đang nhắm tới Trung Quốc, bối cảnh cầu hiện tại khác rõ so với doanh nghiệp đang phụ thuộc vào Mỹ.

Ngoài thị trường truyền thống, một số khu vực cũng cho thấy tín hiệu mở rộng. Chẳng hạn, xuất khẩu cá tra sang CPTPP đạt khoảng 196 triệu USD trong 6 tháng đầu năm và tăng 15%, trong khi một số thị trường nhỏ như Colombia cũng ghi nhận tăng trưởng cao từ nền thấp hơn.

Khi tăng trưởng giữa Trung Quốc và Mỹ đi theo hai hướng khác nhau, doanh nghiệp cần xác định cụ thể nhà nhập khẩu nào vẫn đang tăng mua, tần suất giao dịch ra sao và họ đang lấy hàng từ những nhà cung cấp nào. TradeInt có thể hỗ trợ kiểm tra lịch sử nhập khẩu ở cấp doanh nghiệp để thu hẹp danh sách khách hàng cần ưu tiên.

Cá ngừ: Quy mô lớn nhưng tăng trưởng đang chững lại

Cá ngừ đạt gần 524 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026 nhưng giảm khoảng 1,4% so với cùng kỳ, khác với xu hướng tăng của tôm và cá tra.

Việc cá ngừ gần như đi ngang trong tháng 7 cho thấy mức tăng của tháng 6 chưa tạo thành xu hướng bền vững. Vì vậy, doanh nghiệp cần theo dõi riêng từng dòng sản phẩm và thị trường thay vì xem một tháng phục hồi mạnh là tín hiệu đảo chiều của toàn ngành.

Điểm cần chú ý ở cá ngừ không phải quy mô tuyệt đối, mà là việc một trong ba nhóm thủy sản lớn nhất hiện chưa tham gia vào đà tăng chung của toàn ngành.

Cấu trúc sản phẩm cá ngừ cũng khá khác biệt. Dữ liệu VASEP trong những tháng đầu năm cho thấy xuất khẩu gồm cả nhóm HS 03 như cá ngừ tươi, đông lạnh, phi lê và nhóm HS 16 như cá ngừ chế biến, đóng hộp. Hai nhóm này có diễn biến khác nhau, vì vậy việc chỉ nhìn tổng kim ngạch cá ngừ có thể che khuất xu hướng ở cấp sản phẩm.

Về thị trường, Mỹ vẫn là điểm đến có vai trò lớn đối với cá ngừ Việt Nam. Tuy nhiên, dữ liệu nửa đầu năm cho thấy hoạt động xuất khẩu sang một số thị trường lớn chịu áp lực, trong đó EU cũng giảm so với cùng kỳ.

Với cá ngừ, mức giảm của toàn nhóm chưa phản ánh đầy đủ cơ hội của từng dòng sản phẩm. Cá ngừ đóng hộp, loin và sản phẩm đông lạnh có cấu trúc nhu cầu khác nhau, vì vậy doanh nghiệp nên đánh giá riêng từng mã HS trước khi kết luận thị trường đang suy yếu.

Cua ghẹ và giáp xác khác: Tăng nhanh nhưng quy mô vẫn nhỏ hơn nhóm chủ lực

Cua ghẹ và các loại giáp xác khác đạt gần 246 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 28,7%, nhanh hơn đáng kể so với mức tăng của tôm và cá tra.

Tuy nhiên, mức tăng gần 29% cần được đặt đúng trong bối cảnh quy mô. Kim ngạch nhóm này chỉ bằng khoảng 9% kim ngạch tôm, nên chưa thể xem đây là mặt hàng dẫn dắt toàn bộ ngành chỉ dựa trên tốc độ tăng trưởng.

Điểm đáng quan tâm hơn là nhu cầu đang tăng mạnh tại một số thị trường cụ thể. Ngay trong hai tháng đầu năm, VASEP ghi nhận xuất khẩu cua sang Trung Quốc và Hồng Kông tăng mạnh, trong đó nhu cầu sản phẩm cua sống phục vụ thị trường Trung Quốc đóng góp đáng kể.

Một điểm tích cực với thị trường Mỹ là NOAA đã cấp lại kết quả công nhận tương đương theo MMPA cho các nghề khai thác ghẹ bơi của Việt Nam vào tháng 5/2026, qua đó tháo gỡ một rủi ro tiếp cận thị trường quan trọng cho nhóm hàng này.

Với nhóm cua ghẹ tăng nhanh từ nền thấp, câu hỏi quan trọng là mức tăng có được duy trì qua nhiều tháng hay chỉ tập trung vào một giai đoạn cao điểm. Dữ liệu lịch sử giao dịch trên TradeInt có thể giúp doanh nghiệp kiểm tra tần suất mua của từng importer và phân biệt nhu cầu ổn định với các đợt mua mang tính thời vụ. Đặt lịch demo với TradeInt ngay!

Nhuyễn thể có vỏ: Tốc độ tăng cao nhưng chưa phải nhóm có quy mô lớn

Nhuyễn thể có vỏ đạt hơn 178 triệu USD trong 7 tháng đầu năm 2026 và tăng khoảng 29,5%, là một trong những nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong cơ cấu thủy sản.

Tốc độ gần 30% cho thấy đây là nhóm đáng theo dõi, nhưng kim ngạch vẫn chỉ tương đương khoảng 2,6% tổng xuất khẩu thủy sản 7 tháng. Vì vậy, đây là một phân khúc tăng nhanh từ nền nhỏ, chưa phải mặt hàng có sức nặng tương đương tôm, cá tra hay cá ngừ.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, mức tăng gần 30% của nhuyễn thể có vỏ là tín hiệu đáng chú ý, nhưng chưa đủ để xác định cơ hội. Điều quan trọng hơn là phải tách rõ tăng trưởng đang đến từ nghêu, sò, hàu hay các nhóm nhuyễn thể khác, bởi mỗi phân khúc có thị trường tiêu thụ, yêu cầu sản phẩm và mức độ cạnh tranh khác nhau. Khi đã xác định được nhóm sản phẩm tạo tăng trưởng, doanh nghiệp mới có cơ sở đánh giá thị trường nào phù hợp với năng lực chế biến và danh mục sản phẩm hiện có.

Triển vọng và thách thức của ngành thủy sản xuất khẩu năm 2026 thế nào?

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam có khả năng vượt mốc 12 tỷ USD trong năm 2026 nếu duy trì được nhịp xuất khẩu hiện tại. Sau 7 tháng, kim ngạch đạt gần 6,86 tỷ USD; để đạt 12 tỷ USD, ngành cần thêm khoảng 5,14 tỷ USD trong 5 tháng cuối năm, tương đương bình quân khoảng 1,03 tỷ USD mỗi tháng.

Mức này không quá xa so với thực tế gần đây khi kim ngạch từ tháng 4 đến tháng 7 đều duy trì quanh hoặc trên 1 tỷ USD/tháng. Vì vậy, 12 tỷ USD là một kịch bản có cơ sở.

Dù mốc trên 12 tỷ USD vẫn có cơ sở, số liệu tháng 7 cho thấy tốc độ tăng đang chậm lại. Kim ngạch tháng 7 chỉ tăng 4,8% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 11,5% của lũy kế 7 tháng; đồng thời cá tra giảm 6,1% và cá ngừ gần như đi ngang. Điều này cho thấy phần còn lại của năm có thể khó duy trì tốc độ tăng cao như giai đoạn đầu năm.

Che Bien Thuy San Xuat Khau

Ba nhóm thách thức lớn nhất đối với ngành thủy sản xuất khẩu là rào cản thương mại và tuân thủ, áp lực nguyên liệu và chi phí sản xuất, cùng biến động logistics. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì đơn hàng và biên lợi nhuận trong các tháng cuối năm.[]{.PDq2pG_selectionAnchor}

  • Rào cản thương mại và tuân thủ: ngoài các yêu cầu hiện hành, từ tháng 1/2026 EU đã bắt buộc sử dụng hệ thống CATCH đối với hồ sơ nhập khẩu thủy sản thuộc phạm vi quy định IUU. Điều này làm tăng yêu cầu về tính chính xác và nhất quán của dữ liệu chứng thư, sản phẩm và nguồn khai thác, đặc biệt với thủy sản khai thác.
  • Nguồn nguyên liệu và giá thành: thiếu nguyên liệu ổn định hoặc chi phí đầu vào tăng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh về giá, đặc biệt với các nhóm phụ thuộc nhiều vào khai thác.
  • Logistics và chuỗi lạnh: thủy sản là nhóm hàng nhạy cảm với thời gian vận chuyển và nhiệt độ, nên biến động cước, thiếu chỗ tàu hoặc chậm giao hàng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và chất lượng hàng hóa.

Ba áp lực trên có thể tác động đồng thời lên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Yêu cầu tuân thủ cao hơn làm tăng chi phí tiếp cận thị trường, nguồn nguyên liệu thiếu ổn định gây áp lực lên giá thành, trong khi logistics tăng có thể tiếp tục thu hẹp biên lợi nhuận. Do đó, ngay cả khi nhu cầu nhập khẩu duy trì, kim ngạch chưa chắc tăng tương ứng nếu doanh nghiệp không giữ được nguồn cung và mức giá cạnh tranh.

Tuy nhiên, các rủi ro này không tác động đồng đều lên toàn ngành. Doanh nghiệp phụ thuộc vào một thị trường lớn, một nhóm sản phẩm hoặc một nguồn nguyên liệu cụ thể sẽ chịu mức độ rủi ro cao hơn. Vì vậy, triển vọng cuối năm không chỉ phụ thuộc vào tổng cầu, mà còn vào khả năng doanh nghiệp duy trì nguồn cung, đáp ứng yêu cầu nhập khẩu và kiểm soát chi phí giao hàng.

Doanh nghiệp sử dụng TradeInt để tìm khách hàng xuất khẩu thủy sản như thế nào?

Doanh nghiệp có thể sử dụng TradeInt để đi từ việc xác định thị trường có nhu cầu đến tìm các nhà nhập khẩu đang thực sự mua sản phẩm thủy sản tương ứng. Quy trình nên bắt đầu từ mặt hàng và mã HS, sau đó thu hẹp theo quốc gia, nhà nhập khẩu, lịch sử giao dịch và nhà cung cấp hiện tại.

Thay vì chỉ nhìn vào việc Trung Quốc, Mỹ hay Nhật Bản đang nhập khẩu bao nhiêu thủy sản từ Việt Nam, doanh nghiệp cần trả lời những câu hỏi thương mại cụ thể hơn:

  • Công ty nào đang nhập khẩu đúng mặt hàng doanh nghiệp đang bán?
  • Họ nhập hàng với tần suất bao nhiêu?
  • Giá trị hoặc quy mô các lô hàng có phù hợp với năng lực cung ứng không?
  • Họ đang mua từ Việt Nam hay từ các quốc gia cạnh tranh?
  • Họ đang làm việc với bao nhiêu nhà cung cấp?
  • Hoạt động nhập khẩu gần đây có còn duy trì hay đã giảm?

Nếu doanh nghiệp chưa có đủ dữ liệu để trả lời những câu hỏi này, TradeInt có thể hỗ trợ truy xuất lịch sử giao dịch, nhà nhập khẩu, nhà cung cấp và tần suất mua theo từng mặt hàng, mã HS và thị trường, giúp doanh nghiệp ra quyết định kinh doanh chiến lược.

Kết luận

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đang duy trì quy mô cao trong năm 2026, nhưng cơ hội thực tế phân hóa rõ theo thị trường và mặt hàng. Vì vậy, doanh nghiệp không nên dừng ở câu hỏi ngành đang tăng bao nhiêu, mà cần xác định đúng nơi nhu cầu đang tăng và những nhà nhập khẩu thực sự còn mua hàng.

Với dữ liệu giao dịch theo sản phẩm, mã HS và doanh nghiệp, TradeInt giúp chuyển các tín hiệu thị trường đó thành danh sách khách hàng có thể tiếp cận. Đăng ký demo để cùng chuyên gia TradeInt kiểm tra trực tiếp thị trường và sản phẩm doanh nghiệp đang muốn xuất khẩu.


TRADEINT - NỀN TẢNG TRA CỨU THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU TOÀN CẦU

Giải Pháp Dữ Liệu Giúp Doanh Nghiệp Chinh Phục Thị Trường Quốc Tế

Địa chỉ: Tầng 15, TTC Tower, số 19 Duy Tân, phường Cầu Giấy, Hà Nội.

Hotline/Zalo : (+84) 32 830 8550 - Email: [email protected]

Share this article: