Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 319,73 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ 2025. Đáng chú ý, tăng trưởng không chỉ đến từ việc Mỹ tiếp tục mở rộng mạnh mà còn từ Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Hà Lan và Đức.
Mỹ vẫn bỏ xa các thị trường còn lại với 104,69 tỷ USD, nhưng xét về tốc độ tăng, Hồng Kông, Thái Lan và Trung Quốc đều tăng trên 30%. Điều này cho thấy bản đồ xuất khẩu năm 2026 vừa có sự tập trung cao vào các thị trường lớn, vừa xuất hiện những điểm tăng trưởng mới đáng theo dõi.
Dưới đây là 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026:
| # | Thị trường | Kim ngạch 7T/2026 | So với 7T/2025 | Tỷ trọng tổng XK |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Mỹ | 104,69 tỷ USD | +23,0% | 32,7% |
| 2 | Trung Quốc | 45,64 tỷ USD | +30,4% | 14,3% |
| 3 | Hàn Quốc | 19,06 tỷ USD | +16,9% | 6,0% |
| 4 | Nhật Bản | 17,63 tỷ USD | +16,6% | 5,5% |
| 5 | Hồng Kông | 12,80 tỷ USD | +35,9% | 4,0% |
| 6 | Hà Lan | 9,42 tỷ USD | +26,4% | 2,9% |
| 7 | Ấn Độ | 6,98 tỷ USD | +17,4% | 2,2% |
| 8 | Đức | 6,87 tỷ USD | +24,9% | 2,1% |
| 9 | Thái Lan | 6,52 tỷ USD | +34,8% | 2,0% |
| 10 | Vương quốc Anh | 5,39 tỷ USD | +15,1% | 1,7% |
Nguồn: Dữ liệu Hải quan Việt Nam. Tăng trưởng cùng kỳ được tính từ kim ngạch tháng 1-7/2025 và tháng 1-7/2026.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của 10 thị trường top đầu đạt khoảng 235 tỷ USD, chiếm 73,5% tổng xuất khẩu. Năm 2025, cũng 10 thị trường này chiếm khoảng 72,1%, cho thấy mức độ tập trung đầu ra đã tăng nhẹ. Riêng Mỹ và Trung Quốc đóng góp khoảng 30,2 tỷ USD trong gần 57 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng thêm, tức hơn một nửa tăng trưởng của cả nước.
Top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đi các quốc gia
1. Mỹ - 104,69 tỷ USD: Thị trường xuất khẩu lớn nhất và đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng
Xuất khẩu sang Mỹ đạt 104,69 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 23% so với 85,12 tỷ USD cùng kỳ 2025 và chiếm 32,7% tổng xuất khẩu Việt Nam. Riêng phần tăng thêm gần 19,58 tỷ USD của thị trường Mỹ tương đương khoảng một phần ba mức tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Đà tăng diễn ra trên nền rất cao. Sau tháng 2 ở mức 9,94 tỷ USD, xuất khẩu sang Mỹ liên tục đạt khoảng 15-18 tỷ USD/tháng và lên 18,40 tỷ USD trong tháng 7, cao hơn khoảng 29,4% so với tháng 7/2025.
Trong gần 19,58 tỷ USD kim ngạch tăng thêm so với 7 tháng 2025, riêng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng thêm khoảng 11,34 tỷ USD, còn máy móc, thiết bị và phụ tùng tăng thêm khoảng 3,54 tỷ USD.
| Nhóm hàng | 7T/2025 | 7T/2026 | Tăng/giảm |
|---|---|---|---|
| Máy vi tính, điện tử và linh kiện | 22,24 tỷ USD | 33,57 tỷ USD | +51,0% |
| Máy móc, thiết bị và phụ tùng | 13,30 tỷ USD | 16,83 tỷ USD | +26,6% |
| Dệt may | 10,29 tỷ USD | 10,50 tỷ USD | +2,0% |
| Điện thoại và linh kiện | 6,47 tỷ USD | 7,12 tỷ USD | +10,1% |
| Giày dép | 5,23 tỷ USD | 5,58 tỷ USD | +6,6% |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 5,41 tỷ USD | 5,09 tỷ USD | -5,8% |
| Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận | 3,02 tỷ USD | 2,93 tỷ USD | -2,9% |
Cơ cấu này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu sang Mỹ năm 2026 không diễn ra đồng đều giữa các ngành. Điện tử đang trở thành động lực áp đảo, trong khi các ngành truyền thống như dệt may chỉ tăng khoảng 2%, giày dép tăng 6,6%, còn gỗ và đồ chơi thậm chí giảm.
Trong cơ cấu xuất khẩu sang Mỹ, điện tử đã tăng từ khoảng 26% trong 7T/2025 lên hơn 32% trong 7T/2026. Nếu cộng thêm máy móc, hai nhóm công nghiệp này hiện chiếm gần 48% toàn bộ xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ. Đây là dấu hiệu cho thấy quan hệ thương mại đang ngày càng nghiêng mạnh về hàng công nghệ và sản phẩm chế tạo, thay vì chỉ dựa vào các ngành tiêu dùng truyền thống.

Tuy vậy, Mỹ vẫn là thị trường có mức độ phụ thuộc rất cao đối với nhiều ngành khác. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Mỹ hấp thụ gần 50% xuất khẩu gỗ của Việt Nam, khoảng 46% dệt may, gần 42% máy móc, hơn 39% điện tử và giày dép, và khoảng 52% đồ chơi.
Thị trường này gần đây đang phải đối mặt với những thay đổi về thuế, quy tắc xuất xứ và chính sách nhập khẩu của Mỹ. USTR đã mở điều tra Section 301 đối với Việt Nam vào tháng 5/2026 liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Điều này khiến một yếu tố ngày càng quan trọng là xuất xứ thực chất của hàng hóa. Với các ngành như điện tử, máy móc, dệt may hoặc đồ gỗ, doanh nghiệp thường sử dụng nguyên liệu và linh kiện từ nhiều quốc gia. Trong bối cảnh Mỹ tăng giám sát thương mại và chuỗi cung ứng, doanh nghiệp không chỉ cần chứng minh hàng được sản xuất tại Việt Nam mà còn phải kiểm soát được nguồn nguyên liệu, mức độ gia công và hồ sơ truy xuất của từng lô hàng.
2. Trung Quốc - 45,64 tỷ USD: Tăng hơn 30%, động lực chính đến từ công nghệ
Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 45,64 tỷ USD, tăng 30,4% so với 35,01 tỷ USD cùng kỳ 2025. Đây là thị trường lớn thứ 2 sau Mỹ và tăng nhanh thứ ba trong top 10, đóng góp thêm khoảng 10,63 tỷ USD vào xuất khẩu của Việt Nam.
Xu hướng tăng khá rõ từ giữa năm: tháng 5 đạt 7,08 tỷ USD, tháng 6 lên 7,88 tỷ USD và tháng 7 đạt 7,67 tỷ USD. Tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc không chủ yếu đến từ nông sản, mà từ nhóm công nghệ và công nghiệp. So với 7 tháng 2025, nhóm này đã tạo thêm khoảng 7,36 tỷ USD, tương đương gần 70% phần kim ngạch tăng thêm của toàn thị trường Trung Quốc.
| Nhóm hàng | 7T/2025 | 7T/2026 | Tăng/giảm |
|---|---|---|---|
| Máy vi tính, điện tử và linh kiện | 9,53 tỷ USD | 14,31 tỷ USD | +50,3% |
| Điện thoại và linh kiện | 6,56 tỷ USD | 8,15 tỷ USD | +24,3% |
| Máy móc, thiết bị và phụ tùng | 2,86 tỷ USD | 3,85 tỷ USD | +34,5% |
| Rau quả | 2,11 tỷ USD | 2,81 tỷ USD | +33,1% |
| Thủy sản | 1,20 tỷ USD | 1,65 tỷ USD | +37,1% |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 1,05 tỷ USD | 1,54 tỷ USD | +46,4% |
| Xơ, sợi dệt | 1,15 tỷ USD | 1,47 tỷ USD | +27,9% |
| Cao su | 1,13 tỷ USD | 905 triệu USD | -20,3% |
| Hạt điều | 608 triệu USD | 719 triệu USD | +18,2% |
| Sắn và sản phẩm từ sắn | 705 triệu USD | 689 triệu USD | -2,3% |
Cơ cấu này cho thấy Trung Quốc đang đóng vai trò rất quan trọng với xuất khẩu Việt Nam, vừa là một mắt xích lớn của chuỗi sản xuất khu vực, vừa là thị trường tiêu thụ quan trọng đối với rau quả, thủy sản, cao su, điều và sắn.
Ở nhóm công nghệ, tăng trưởng phản ánh mức độ liên kết sâu của Việt Nam với chuỗi cung ứng Đông Á. Ghi nhận từ Tổng cục hải quan cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2026, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 50,3%; máy móc, thiết bị tăng 34,5%; điện thoại và linh kiện tăng 24,3% so với cùng kỳ. Một phần đáng kể do linh kiện, bán thành phẩm và hàng hóa lưu chuyển giữa các công đoạn sản xuất trong chuỗi khu vực.

Với ngành nông thủy sản, Trung Quốc tiếp tục là một trong những đối tác xuất khẩu lớn nhất, nhưng yêu cầu SPS, đăng ký doanh nghiệp và kiểm soát an toàn thực phẩm đang ngày càng chặt hơn. Bộ Công Thương cho biết 17/18 nhóm thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc phải đăng ký doanh nghiệp theo cơ chế có thư giới thiệu của cơ quan có thẩm quyền, ngoại trừ một số trường hợp riêng.
Điều này đặc biệt quan trọng vì tăng trưởng nông sản sang Trung Quốc không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu. Khả năng duy trì mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, đăng ký doanh nghiệp, kiểm dịch và tính ổn định của logistics biên giới có thể quyết định trực tiếp khả năng giao hàng. Vân Nam vẫn là cửa ngõ lớn để hàng Việt tiếp cận khu vực Tây Nam Trung Quốc, nơi có quy mô dân số khoảng 200 triệu người.
3. Hàn Quốc - 19,06 tỷ USD: Tăng trưởng tập trung vào điện thoại
Đứng top 3 trong danh sách các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Hàn Quốc. Xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 19,06 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 16,9% so với 16,30 tỷ USD cùng kỳ 2025 và chiếm khoảng 6% tổng xuất khẩu Việt Nam.
Trong cơ cấu tăng trưởng, điện thoại và linh kiện tăng rất mạnh, trong khi dệt may, gỗ và một số nhóm truyền thống không cùng nhịp.
| Nhóm hàng | 7T/2025 | 7T/2026 | Tăng/giảm |
|---|---|---|---|
| Máy vi tính, điện tử và linh kiện | 4,71 tỷ USD | 5,31 tỷ USD | +12,7% |
| Điện thoại và linh kiện | 2,35 tỷ USD | 3,99 tỷ USD | +69,3% |
| Máy móc, thiết bị và phụ tùng | 1,79 tỷ USD | 1,87 tỷ USD | +4,7% |
| Dệt may | 1,59 tỷ USD | 1,50 tỷ USD | -6,0% |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | 1,06 tỷ USD | 1,17 tỷ USD | +10,0% |
| Thủy sản | 461 triệu USD | 484 triệu USD | +4,9% |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 433 triệu USD | 397 triệu USD | -8,2% |
Cấu trúc xuất khẩu này cũng phản ánh bản chất khác biệt của Hàn Quốc khi vừa là thị trường xuất khẩu vừa là nguồn cung đầu vào cực lớn cho hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Trong cùng 7 tháng, Việt Nam nhập khẩu khoảng 51,39 tỷ USD từ Hàn Quốc, cao gấp gần 2,7 lần kim ngạch xuất khẩu sang nước này. Việt Nam nhập siêu khoảng 32,33 tỷ USD.
Mối liên kết thương mại Việt Nam - Hàn Quốc càng rõ khi nhìn vào FDI. Tính đến hết tháng 3/2026, Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, với khoảng 98,9 tỷ USD vốn đăng ký và hơn 10.400 dự án.
Sự hiện diện của các tập đoàn Hàn Quốc trong điện tử, linh kiện và công nghiệp chế biến khiến một phần thương mại hai nước mang tính intra-industry và intra-group, tức hàng hóa di chuyển giữa các doanh nghiệp và công đoạn khác nhau trong cùng chuỗi sản xuất. Điều này giải thích vì sao điện tử, điện thoại và máy móc chiếm tỷ trọng lớn tới gần 59% trong xuất khẩu sang Hàn Quốc (khoảng 11,17 tỷ USD).
4. Nhật Bản - 17,63 tỷ USD: Tăng trưởng đang có sự chuyển dịch
Xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 17,63 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 16,6% so với 15,12 tỷ USD cùng kỳ 2025 và chiếm khoảng 5,5% tổng xuất khẩu Việt Nam.
Sau tháng 2 giảm nhẹ so với cùng kỳ, kim ngạch từ tháng 3 đến tháng 7 đều tăng hai chữ số; riêng tháng 7 đạt 2,86 tỷ USD, tăng khoảng 23,7% so với tháng 7/2025. Phần tăng trưởng không còn đến chủ yếu từ các ngành hàng truyền thống như dệt may, thủy sản hay gỗ, mà đang dịch chuyển rõ sang điện tử, điện thoại và máy móc.
| Nhóm hàng | 7T/2025 | 7T/2026 | Tăng/giảm |
|---|---|---|---|
| Dệt may | 2,53 tỷ USD | 2,39 tỷ USD | -5,5% |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | 1,87 tỷ USD | 1,97 tỷ USD | +5,6% |
| Máy móc, thiết bị và phụ tùng | 1,52 tỷ USD | 1,82 tỷ USD | +19,4% |
| Điện thoại và linh kiện | 1,04 tỷ USD | 1,65 tỷ USD | +58,9% |
| Máy vi tính, điện tử và linh kiện | 878 triệu USD | 1,41 tỷ USD | +61,1% |
| Gỗ và sản phẩm gỗ | 1,20 tỷ USD | 1,27 tỷ USD | +5,8% |
| Thủy sản | 921 triệu USD | 942 triệu USD | +2,3% |
| Giày dép | 708 triệu USD | 685 triệu USD | -3,3% |
| Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận | 297 triệu USD | 542 triệu USD | +82,7% |
| Hóa chất | 201 triệu USD | 514 triệu USD | +156,2% |
Trong 2,51 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tăng thêm so với 7 tháng 2025, riêng điện thoại tăng khoảng 612 triệu USD, điện tử tăng 536 triệu USD, hóa chất tăng 314 triệu USD, máy móc tăng 295 triệu USD và đồ chơi tăng 245 triệu USD. Năm nhóm này đóng góp khoảng 80% phần tăng trưởng của thị trường Nhật Bản.

Các nhóm công nghệ và chế tạo đang tăng nhanh, trong khi một số ngành vốn gắn lâu với thị trường Nhật lại gần như đi ngang hoặc giảm. Dệt may vẫn đứng đầu với 2,39 tỷ USD nhưng giảm 5,5%; thủy sản chỉ tăng 2,3%; gỗ tăng 5,8%; giày dép giảm 3,3%.
Thị trường Nhật Bản từ lâu đã là đầu ra ổn định cho dệt may, thủy sản, gỗ và thực phẩm Việt Nam, nhưng dữ liệu 2026 cho thấy động lực tăng trưởng đang mở rộng sang chuỗi công nghiệp. Năm 2025, thương mại hai chiều Việt Nam - Nhật Bản lần đầu vượt 51,43 tỷ USD, Bộ Công Thương đánh giá Nhật Bản là một trong những đối tác thương mại lớn và ổn định của Việt Nam.
5. Hồng Kông - 12,80 tỷ USD: Tăng trưởng nhanh nhất trong top 10
Xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông đạt 12,80 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 35,9% so với 9,42 tỷ USD cùng kỳ 2025 và chiếm khoảng 4% tổng xuất khẩu cả nước.
Tăng trưởng tại thị trường này khá mạnh nhưng biến động lớn. Kim ngạch đạt 1,35 tỷ USD tháng 1, tăng lên 2,49 tỷ USD tháng 3, giảm còn 1,84 tỷ USD tháng 5 rồi lại phục hồi lên 2,28 tỷ USD tháng 6. So với cùng kỳ 2025, nhiều tháng tăng mạnh, đặc biệt tháng 3 gần gấp đôi.
Cơ cấu xuất khẩu sang Hồng Kông tập trung cực cao vào hàng công nghệ. Trong 7 tháng 2026:
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 7,89 tỷ USD
- Máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt khoảng 3,00 tỷ USD
- Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt khoảng 111 triệu USD
- Đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt khoảng 27 triệu USD.
Riêng điện tử và máy móc đã đạt khoảng 10,89 tỷ USD, tương đương hơn 85% tổng xuất khẩu sang Hồng Kông.
Hồng Kông có thể coi là một mắt xích thương mại và phân phối của chuỗi công nghệ châu Á. Dữ liệu chính thức của quốc gia này cho thấy, giá trị tái xuất khẩu của Hồng Kông đạt hơn HK$5.174 tỷ, trong khi xuất khẩu có nguồn gốc nội địa chỉ khoảng HK$66 tỷ. Mối liên hệ của Hồng Kông với Trung Quốc đại lục đặc biệt sâu. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, Hồng Kông tái xuất khoảng HK$2.093 tỷ hàng hóa tới Trung Quốc đại lục, tăng 42,3% so với cùng kỳ. Như vậy, một phần hàng Việt Nam khai báo điểm đến Hồng Kông có thể tiếp tục đi vào Trung Quốc đại lục hoặc được phân phối sang các thị trường khác trong khu vực.
Chính quyền Hồng Kông cho biết tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa trong năm 2026 đang được hỗ trợ mạnh bởi nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm điện tử liên quan đến AI. Điều này giúp giải thích vì sao điện tử Việt Nam xuất sang Hồng Kông tăng nhanh trong năm 2026.
6. Hà Lan - 9,42 tỷ USD: Cửa ngõ phân phối hàng Việt vào EU
Xuất khẩu sang Hà Lan đạt 9,42 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 26,4% so với 7,45 tỷ USD cùng kỳ 2025 và chiếm gần 3% tổng xuất khẩu Việt Nam. Hà Lan tiếp tục là thị trường lớn nhất của hàng Việt Nam trong EU.
Tăng trưởng xuất khẩu sang Hà Lan năm 2026 cao hơn đáng kể so với năm trước. Cơ cấu hàng hóa năm 2026 tiếp tục tập trung vào nhóm công nghiệp và hàng tiêu dùng xuất khẩu. Một số nhóm đáng chú ý gồm điện tử 2,69 tỷ USD, giày dép 1,10 tỷ USD, dệt may 901 triệu USD, đồ chơi, dụng cụ thể thao khoảng 396 triệu USD và rau quả 135 triệu USD.
Hàng hóa nhập vào Hà Lan được tiếp tục phân phối sang các nước EU khác, đặc biệt thông qua hệ thống logistics Rotterdam. Cảng Rotterdam là cửa ngõ bên ngoài của Liên minh châu Âu. Sau khi hàng được làm thủ tục nhập khẩu tại Rotterdam, hàng hóa có thể tiếp tục lưu thông trong thị trường EU mà không phải làm lại thủ tục nhập khẩu tại từng nước thành viên. Cảng cũng kết nối với hơn 1.000 cảng quốc tế và có mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và short-sea đi sâu vào châu Âu.

Bộ Công Thương ghi nhận Hà Lan tiếp tục đứng đầu EU về nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam, trong khi giày dép, dệt may và nhiều nhóm nông sản đã ghi nhận tăng trưởng sau khi EVFTA có hiệu lực. Tuy nhiên, lợi thế thuế quan chỉ có giá trị khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ và các yêu cầu thị trường EU về an toàn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững.
7. Ấn Độ - 6,98 tỷ USD: Tăng 17,4% với nhu cầu công nghiệp nổi bật
Xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 6,98 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 17,4% so với 5,95 tỷ USD cùng kỳ 2025 và chiếm 2,2% tổng xuất khẩu cả nước.
Tuy quy mô chưa lớn, nhưng cấu trúc tăng trưởng cho thấy Ấn Độ đang trở thành thị trường đáng chú ý đối với hàng công nghiệp và công nghệ Việt Nam.
| Nhóm hàng | 7T/2025 | 7T/2026 | Tăng/giảm |
|---|---|---|---|
| Điện thoại và linh kiện | 1,39 tỷ USD | 1,40 tỷ USD | +0,6% |
| Máy vi tính, điện tử và linh kiện | 879 triệu USD | 1,16 tỷ USD | +32,1% |
| Máy móc, thiết bị và phụ tùng | 579 triệu USD | 782 triệu USD | +35,1% |
| Sắt thép các loại | 420 triệu USD | 421 triệu USD | +0,1% |
| Hóa chất | 253 triệu USD | 224 triệu USD | -11,2% |
| Chất dẻo nguyên liệu | 80 triệu USD | 229 triệu USD | +186,5% |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | 136 triệu USD | 160 triệu USD | +17,3% |
| Dệt may | 116 triệu USD | 160 triệu USD | +37,6% |
| Sản phẩm từ chất dẻo | 166 triệu USD | 151 triệu USD | -9,1% |
| Cao su | 85 triệu USD | 127 triệu USD | +49,7% |
Điện thoại vẫn là nhóm xuất khẩu lớn nhất nhưng gần như không tăng so với 2025. Kim ngạch chỉ nhích từ khoảng 1,389 tỷ USD lên 1,397 tỷ USD. Động lực tăng trưởng đến nhiều hơn từ điện tử, máy móc và một số đầu vào công nghiệp. Chỉ ba nhóm này đã tạo thêm hơn 630 triệu USD, tương đương khoảng 61% phần kim ngạch tăng thêm của Việt Nam sang Ấn Độ.
Chính phủ Ấn Độ đang triển khai các chương trình Production Linked Incentive (PLI) nhằm mở rộng sản xuất điện tử trong nước, thu hút đầu tư vào điện thoại, linh kiện điện tử, phần cứng IT, chất bán dẫn và các công đoạn khác trong chuỗi giá trị. Trong giai đoạn mở rộng công suất, các nhà máy mới vẫn cần máy móc, linh kiện, vật liệu và bán thành phẩm mà chuỗi cung ứng nội địa chưa cung cấp đủ.
Với nhà xuất khẩu Việt Nam, đây không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức. Khi Ấn Độ tăng tỷ lệ nội địa hóa, những sản phẩm hiện đang được nhập khẩu dần phải cạnh tranh mạnh hơn với nhà cung cấp trong nước.
8. Đức - 6,87 tỷ USD: Thị trường lớn thứ 2 của Việt Nam trong EU
Xuất khẩu của Việt Nam sang Đức đạt 6,87 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 24,9% so với 5,50 tỷ USD cùng kỳ 2025. Đức là đối tác rất quan trọng của Việt Nam tại EU, chiếm khoảng 18% xuất khẩu của Việt Nam sang toàn khối.
Tăng trưởng của thị trường đang trên đà rất tốt. Tháng 7/2026 xuất khẩu Việt Nam sang thị trường này đạt 1,17 tỷ USD, cao hơn khoảng 56% so với 748 triệu USD tháng 7/2025. Khác Hà Lan, giá trị của Đức không chủ yếu nằm ở vai trò trung chuyển. Đây là một thị trường nhập khẩu và tiêu dùng cuối lớn, đồng thời có nền sản xuất công nghiệp sâu, nên cơ hội của Việt Nam trải trên nhiều nhóm sản phẩm khác nhau.
Giá trị xuất khẩu của một số nhóm hàng sang Đức 7T/2026:
| Nhóm hàng | 7T/2026 |
|---|---|
| Cà phê | 719 triệu USD |
| Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận | 166 triệu USD |
| Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện | 95,7 triệu USD |
| Hạt tiêu | 68,1 triệu USD |
Đức chiếm khoảng 13,2% tổng kim ngạch cà phê xuất khẩu của Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khoảng 177,9 nghìn tấn cà phê sang Đức, trị giá 719 triệu USD, cao nhất trong tất cả các thị trường. Đức không chỉ là nơi tiêu thụ cà phê cuối cùng. Quốc gia này có ngành rang xay, chế biến và thương mại cà phê lớn, nên một phần cà phê nhập khẩu được đưa vào chuỗi chế biến và phân phối tiếp tại châu Âu.

Đức cũng là một trong những thị trường mà EVFTA có ý nghĩa rõ. Tuy nhiên, lợi thế thuế quan chỉ phát huy khi doanh nghiệp đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ và các yêu cầu kỹ thuật của EU. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, rào cản ngày càng chuyển từ câu chuyện “có được nhập khẩu hay không” sang “có đủ điều kiện để buyer Đức đưa vào chuỗi cung ứng hay không”.
9. Thái Lan - 6,52 tỷ USD: Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN
Xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan đạt 6,52 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 34,8% so với 4,84 tỷ USD cùng kỳ 2025. Đây là thị trường có tốc độ tăng nhanh thứ hai trong top 10, chỉ sau Hồng Kông.
Sự tăng trưởng mạnh mẽ này đến từ các nhóm hàng chủ lực như điện tử, máy móc, phương tiện vận tải và một số nông sản đặc biệt như thanh long.
Đà tăng đã xuất hiện khá rõ từ đầu năm. Riêng 4 tháng đầu 2026, xuất khẩu sang Thái Lan đạt khoảng 3,76 tỷ USD, tăng 37,9% so với cùng kỳ, trong khi nhập khẩu từ Thái Lan tăng chậm hơn ở mức 14,9%. Bộ Công Thương đánh giá cơ cấu thương mại song phương đang dịch chuyển theo hướng cân bằng hơn khi hàng Việt Nam cải thiện khả năng tiếp cận thị trường Thái Lan.
Giá trị xuất khẩu của một số nhóm hàng sang Thái Lan 7T/2026:
| Nhóm hàng | 7T/2026 |
|---|---|
| Phương tiện vận tải và phụ tùng | ~420 triệu USD |
| Dầu thô | 188 triệu USD |
| Chất dẻo nguyên liệu | 122 triệu USD |
| Dây điện và cáp điện | 64 triệu USD |
| Vải mành, vải kỹ thuật | 29,6 triệu USD |
Thái Lan không chỉ là thị trường tiêu dùng mà còn là một trung tâm sản xuất lớn của ASEAN, vì vậy xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan nằm nhiều ở điện tử, máy móc, vật liệu và sản phẩm phục vụ chuỗi sản xuất.
Thái Lan có nền công nghiệp ô tô, điện tử, hóa dầu và chế biến thực phẩm phát triển. Do đó, nhà cung cấp Việt Nam thường phải cạnh tranh không chỉ với hàng nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc mà còn với nhà sản xuất ngay tại Thái Lan và các nguồn cung ASEAN khác.
Thái Lan đồng thời có hệ thống bán lẻ hiện đại và mức cạnh tranh thương hiệu cao. Theo Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, doanh nghiệp Việt muốn mở rộng hàng tiêu dùng, thực phẩm, thời trang hay sản phẩm công nghệ phải chú ý nhiều hơn đến bao bì thân thiện môi trường, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật và cách tiếp cận các hệ thống bán lẻ lớn như Central Retail hay Big C.
10. Vương quốc Anh - 5,39 tỷ USD: Thị trường tăng trưởng ổn định
Đứng cuối cùng trong danh sách top 10 nước mà Việt Nam xuất khẩu sang nhiều nhất là Vương quốc Anh. Xuất khẩu của Việt Nam sang quốc gia này đạt 5,39 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 15,1% so với 4,68 tỷ USD cùng kỳ 2025.
Kim ngạch từ tháng 5 đến tháng 7/2026 lần lượt đạt khoảng 823 triệu USD, 864 triệu USD và 879 triệu USD, đều cao hơn cùng kỳ năm trước. Hàng Việt Nam đang có vị trí khá rõ trong rổ nhập khẩu hàng tiêu dùng của Anh. Cơ cấu xuất khẩu có tới 33% là thiết bị viễn thông và âm thanh, tiếp theo là máy móc văn phòng 10,6%, giày dép 9,4%, quần áo 7,8% và nhóm hàng chế tạo tiêu dùng khác 5,8%.
Giá trị xuất khẩu của một số nhóm hàng sang Anh 7T/2026:
| Nhóm hàng | 7T/2026 |
|---|---|
| Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận | 250 triệu USD |
| Sản phẩm mây, tre, cói và thảm | 26,3 triệu USD |
Anh có lợi thế đặc biệt vì Việt Nam hiện có hai khung FTA cùng hoạt động. Từ cuối năm 2024, thương mại Việt Nam - Anh không chỉ được hưởng UKVFTA, mà còn có thêm CPTPP, có hiệu lực từ ngày 15/12/2024. Chính phủ Anh xác nhận hai hiệp định hiện tồn tại song song, và doanh nghiệp có thể lựa chọn hiệp định phù hợp khi áp dụng quy tắc xuất xứ cho từng mặt hàng.

Mặc dù xuất khẩu đang tăng, Việt Nam vẫn chỉ là nguồn nhập khẩu lớn thứ 24 của Anh xét cả hàng hóa và dịch vụ, và thứ 17 nếu chỉ tính hàng hóa. Như vậy, tăng trưởng tại Anh vẫn còn dư địa, nhất là trong các nhóm Việt Nam đã có năng lực sản xuất mạnh như điện tử, giày dép, dệt may, nội thất và hàng tiêu dùng.
Doanh nghiệp nên chọn thị trường xuất khẩu dựa trên dữ liệu nào?
Thị trường có kim ngạch nhập khẩu lớn chưa chắc là thị trường tốt nhất cho doanh nghiệp Việt Nam. Một thị trường chỉ thực sự đáng ưu tiên khi sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu đủ lớn, đang tăng trưởng, có khoảng trống cạnh tranh và tồn tại nhóm nhà nhập khẩu phù hợp để tiếp cận.
Trước khi vào một thị trường, nên kiểm tra 3 lớp dữ liệu:
Nhu cầu của sản phẩm
- Quy mô nhập khẩu theo mã HS
- Tốc độ tăng 2-3 năm
- Tính mùa vụ
- Giá nhập khẩu bình quân
Nếu tổng nhập khẩu của quốc gia tăng nhưng mã HS sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp giảm, thị trường đó chưa chắc hấp dẫn.
Vị thế cạnh tranh và khả năng tiếp cận của hàng Việt
- Việt Nam đang chiếm bao nhiêu thị phần?
- Buyer chủ yếu mua từ Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan hay nguồn nào khác?
- Thị phần Việt Nam đang tăng hay giảm?
- Hàng Việt có lợi thế về thuế, logistics, chất lượng hoặc lead time hay không?
Đây là bước xác định doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh thực tế hay chỉ đang nhìn thấy một thị trường lớn trên giấy.
Chất lượng của tập nhà nhập khẩu
- Có bao nhiêu importer đang mua đúng sản phẩm?
- Buyer nào nhập đều và đang tăng volume?
- Họ đang mua từ supplier nào?
- Có đang mở thêm nguồn cung hay phụ thuộc cố định vào một supplier?
- Quy mô đơn hàng có phù hợp năng lực của doanh nghiệp không?
Một thị trường có 100 buyer mua đều và thường xuyên thay đổi nguồn cung có thể hấp dẫn hơn thị trường lớn hơn nhưng chỉ tập trung vào vài tập đoàn đã có supplier cố định. Với nhà xuất khẩu Việt Nam, TradeInt có thể xử lý được hiệu quả bài toán này, từ chọn thị trường sang xác định cơ hội bán hàng cụ thể. Nhờ đó, doanh nghiệp không chỉ biết “nước nào đang nhập nhiều”, mà còn biết buyer nào đang mua đúng sản phẩm, đang tăng nhu cầu và có khả năng mở thêm nguồn cung từ Việt Nam. Trải nghiệm thử nền tảng ngay!
Kết luận
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 104,69 tỷ USD, tiếp theo là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hồng Kông. Tuy nhiên, quy mô chỉ là bước đầu của phân tích thị trường. Dữ liệu cho thấy cấu trúc xuất khẩu của Việt Nam sang từng thị trường hoàn toàn khác khau.
Doanh nghiệp không nên chọn thị trường chỉ dựa trên bảng xếp hạng kim ngạch. Thị trường đáng đầu tư nguồn lực phải được xác nhận bằng nhu cầu của đúng mã HS, vị thế cạnh tranh của hàng Việt và hoạt động mua thực tế của các nhà nhập khẩu. Cơ hội chính là nằm ở một thị trường tuy nhỏ nhưng có nhiều buyer phù hợp, nhu cầu tăng và cạnh tranh vừa phải.
TRADEINT - NỀN TẢNG TRA CỨU THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU TOÀN CẦU
Giải Pháp Dữ Liệu Giúp Doanh Nghiệp Việt Nam Chinh Phục Thị Trường Quốc Tế
Địa chỉ: Tầng 15, TTC Tower, số 19 Duy Tân, phường Cầu Giấy, Hà Nội.
Liên hệ : (+84) 32 830 8550 - Email: [email protected]
Đặt lịch Demo với TradeInt ngay để trải nghiệm nền tảng miễn phí!