Có ưu đãi bất ngờ cho bạn hôm nay: Nắm bắt ngay!

Top 10 Mặt Hàng Xuất Khẩu Chủ Lực Của Việt Nam (2026): Việt Nam Xuất Khẩu Gì Nhiều Nhất?

Author: Kelly | Published: August 10, 2026

News Báo Cáo Xuất Nhập Khẩu Top 10 Mặt Hàng Xuất Khẩu Chủ Lực Của Việt Nam (2026): Việt Nam Xuất Khẩu Gì Nhiều Nhất?
Top 10 Mặt Hàng Xuất Khẩu Chủ Lực Của Việt Nam (2026): Việt Nam Xuất Khẩu Gì Nhiều Nhất?

Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 319,73 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực tăng trưởng tập trung rõ vào nhóm công nghiệp chế biến, đặc biệt là máy vi tính, điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị; cùng điện thoại và linh kiện.

Dữ liệu cũng cho thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng không đi cùng nhau ở mọi ngành. Điện tử tăng hơn 50% so với cùng kỳ, trong khi dệt may và giày dép gần như đi ngang. Cà phê thậm chí tăng mạnh về lượng nhưng giảm về trị giá. Đây là khác biệt quan trọng khi đánh giá sức khỏe thực sự của từng nhóm xuất khẩu.

Để giải thích cho câu hỏi "Việt Nam xuất khẩu gì nhiều nhất?", bảng dưới đây sẽ thống kê top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2026:

# Mặt hàng Kim ngạch 7T/2026 So với 7T/2025 Tỷ trọng trong tổng XK
1 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 85,17 tỷ USD +50,2% 26,6%
2 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 40,15 tỷ USD +24,6% 12,6%
3 Điện thoại và linh kiện 38,50 tỷ USD +18,6% 12,0%
4 Hàng dệt may 22,86 tỷ USD +1,1% 7,2%
5 Giày dép các loại 14,18 tỷ USD +0,7% 4,4%
6 Phương tiện vận tải và phụ tùng 11,63 tỷ USD +17,4% 3,6%
7 Gỗ và sản phẩm gỗ 10,21 tỷ USD +5,7% 3,2%
8 Hàng thủy sản 6,86 tỷ USD +12,8% 2,1%
9 Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận 5,63 tỷ USD +27,9% 1,8%
10 Cà phê 5,45 tỷ USD -9,8% 1,7%

Nguồn: Tổng cục hải quan

Ba nhóm đầu đã tạo ra khoảng 51,2% tổng kim ngạch, trong khi 10 nhóm trên đóng góp khoảng 75,3%. Vì vậy, bức tranh xuất khẩu Việt Nam năm 2026 không chỉ là tăng trưởng mạnh mà còn là sự tập trung ngày càng rõ vào một số chuỗi sản xuất quy mô lớn.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện - 85,17 tỷ USD

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện vừa là nhóm xuất khẩu lớn nhất, đạt khoảng 85,17 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng hơn 50% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 26,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Mức tăng này không đến từ một tháng đột biến. Từ tháng 3 đến tháng 7/2026, kim ngạch liên tục duy trì trên 12 tỷ USD mỗi tháng, trong đó tháng 6 đạt gần 14,97 tỷ USD. Trong khi đó cùng kỳ 2025, toàn bộ 7 tháng chỉ đạt khoảng 56,72 tỷ USD.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 9,585,229
2/2026 8,129,731
3/2026 13,013,547
4/2026 12,064,666
5/2026 13,422,984
6/2026 14,973,184
7/2026 13,982,224
Tổng 7T/2026 85,171,566

Cơ cấu thị trường cho thấy Mỹ đang là đầu ra quan trọng nhất của máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 33,57 tỷ USD, chiếm gần 39,4% kim ngạch nhóm hàng. Trung Quốc đứng thứ hai với 14,31 tỷ USD, tiếp theo là Hong Kong 7,89 tỷ USD, Hàn Quốc 5,31 tỷ USD và Hà Lan 2,69 tỷ USD. Như vậy, chỉ riêng Mỹ và Trung Quốc đã hấp thụ hơn một nửa giá trị xuất khẩu của nhóm điện tử.

vietnam-xuat-khau

Điểm đáng chú ý hơn là tăng trưởng của ngành đang gắn với sự mở rộng của chuỗi cung ứng điện tử và bán dẫn, chứ không chỉ với thiết bị điện tử tiêu dùng. Việt Nam hiện đã tham gia nhiều công đoạn của chuỗi bán dẫn, từ thiết kế đến đóng gói và kiểm thử; Chính phủ cho biết lĩnh vực này đã thu hút hơn 14,2 tỷ USD vốn FDI qua 241 dự án. Nhu cầu liên quan đến AI, trung tâm dữ liệu và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu cũng đang được ngành điện tử xem là các động lực hỗ trợ xuất khẩu năm 2026. VEIA dự báo xuất khẩu điện tử có thể tăng khoảng 15–20% trong cả năm.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng - 40,15 tỷ USD

Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt khoảng 40,15 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 24,6% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 12,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đây là nhóm hàng chủ lực lớn thứ hai và cũng là một trong những động lực tăng trưởng rõ nhất của khối công nghiệp chế biến, chế tạo.

Đà tăng không chỉ đến từ một tháng cao điểm. Kim ngạch tăng từ 5,69 tỷ USD tháng 3 lên 5,94 tỷ USD tháng 4, 6,05 tỷ USD tháng 5, 6,27 tỷ USD tháng 6 và 6,90 tỷ USD tháng 7. So với tháng 7/2025, mức tháng 7/2026 cao hơn khoảng 29,6%, cho thấy tăng trưởng đang được duy trì khá liên tục trong những tháng gần đây.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 5,447,047
2/2026 3,852,222
3/2026 5,691,282
4/2026 5,940,846
5/2026 6,047,112
6/2026 6,270,280
7/2026 6,902,700
Tổng 7T/2026 40,151,489

Cơ cấu thị trường tập trung khá mạnh vào Mỹ. Trong 7 tháng, Mỹ nhập khoảng 16,83 tỷ USD, tương đương gần 41,9% tổng kim ngạch nhóm hàng. Trung Quốc đứng thứ hai với 3,85 tỷ USD, Hong Kong đạt 3,00 tỷ USD, Hàn Quốc 1,87 tỷ USD và Nhật Bản 1,82 tỷ USD. Như vậy, chỉ riêng Mỹ đã có quy mô lớn hơn tổng của bốn thị trường tiếp theo cộng lại trong nhóm này.

Điểm đáng chú ý là máy móc và thiết bị Việt Nam đã chuyển từ một nhóm xuất khẩu quy mô trung bình sang một mắt xích quan trọng của chuỗi sản xuất công nghiệp quốc tế. Bộ Công Thương trước đây cũng ghi nhận đây là một trong những nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, đồng thời ngành công nghiệp hỗ trợ cơ khí trong nước đã phát triển năng lực cung ứng các chi tiết, linh kiện và cụm linh kiện cho nhiều ngành hạ nguồn.

Một tín hiệu khác là khả năng tận dụng các FTA đã bắt đầu thể hiện rõ ở nhóm hàng này. Bộ Công Thương cho biết riêng xuất khẩu máy móc, thiết bị sử dụng C/O EUR.1 theo EVFTA đã vượt 1 tỷ USD, cho thấy một phần doanh nghiệp đã chuyển từ đơn thuần xuất khẩu sang khai thác ưu đãi xuất xứ để tăng khả năng cạnh tranh tại EU.

Điện thoại các loại và linh kiện - 38,50 tỷ USD

Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện đạt khoảng 38,50 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 18,6% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 12% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam. Tuy là nhóm hàng lớn thứ ba nhưng tốc độ tăng trưởng của ngành này thấp hơn rõ rệt so với máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.

Biến động của ngành khá rõ. Kim ngạch giảm từ 5,66 tỷ USD tháng 1 xuống 4,55 tỷ USD tháng 4, sau đó phục hồi lên 5,09 tỷ USD tháng 5, 5,33 tỷ USD tháng 6 và 6,80 tỷ USD tháng 7. So với tháng 7/2025, kim ngạch tháng 7/2026 tăng khoảng 22,2%, cho thấy đà phục hồi cuối giai đoạn vẫn khá mạnh.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 5,661,926
2/2026 5,484,621
3/2026 5,584,525
4/2026 4,550,544
5/2026 5,088,341
6/2026 5,328,396
7/2026 6,801,074
Tổng 7T/2026 38,499,426

Cơ cấu thị trường phân tán hơn nhóm máy móc. Trung Quốc đứng đầu với 8,15 tỷ USD, tương đương khoảng 21,2% kim ngạch; Mỹ theo sát với 7,12 tỷ USD, Hàn Quốc đạt 3,99 tỷ USD, UAE 1,88 tỷ USD và Nhật Bản 1,65 tỷ USD. Năm thị trường lớn nhất vẫn chiếm tới 59% tổng kim ngạch.

Vai trò của điện thoại đang thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu công nghệ của Việt Nam. Trước đây, điện thoại và linh kiện từng là nhóm dẫn đầu xuất khẩu, nhưng hiện tại máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện hiện đã vượt xa về quy mô và tăng trưởng. Trong 7 tháng 2026, điện tử đạt 85,17 tỷ USD và tăng hơn 50%, trong khi điện thoại chỉ đạt 38,50 tỷ USD và tăng 18,6%. Sự chênh lệch này cho thấy phần tăng trưởng mới của cụm công nghệ đang nghiêng nhiều hơn về điện tử, linh kiện và các sản phẩm phục vụ chuỗi công nghệ rộng hơn.

Tuy nhiên, đây cũng là ngành có mức độ phụ thuộc lớn vào chu kỳ sản phẩm và kế hoạch sản xuất của các tập đoàn điện tử toàn cầu. Khi các hãng điều chỉnh lịch ra mắt thiết bị, sản lượng lắp ráp hoặc phân bổ đơn hàng giữa các nhà máy, kim ngạch theo tháng có thể biến động đáng kể dù nhu cầu dài hạn không thay đổi mạnh.

Hàng dệt may - 22,86 tỷ USD

Xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 22,86 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, chỉ tăng khoảng 1,1% so với cùng kỳ và chiếm hơn 7% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam.

Dệt may hiện chủ yếu duy trì quy mô lớn thay vì tạo thêm đà tăng trưởng mạnh. Kim ngạch tăng từ 3,22 tỷ USD tháng 5 lên 3,72 tỷ USD tháng 6 và gần 3,98 tỷ USD tháng 7, nhưng mức tháng 7 chỉ nhỉnh hơn khoảng 1,3% so với 3,93 tỷ USD cùng kỳ 2025. Nói cách khác, các tháng giữa năm 2026 có cải thiện nhưng chưa tạo ra một bước tăng mới cho toàn ngành.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 3,273,738
2/2026 2,434,179
3/2026 3,143,002
4/2026 3,090,726
5/2026 3,216,270
6/2026 3,722,348
7/2026 3,982,923
Tổng 7T/2026 22,863,185

Mỹ chiếm khoảng 10,50 tỷ USD, tương đương gần 46% xuất khẩu dệt may. Nhật Bản đứng thứ hai với 2,39 tỷ USD, Hàn Quốc 1,50 tỷ USD, Hà Lan 901 triệu USD và Trung Quốc 825 triệu USD. Riêng Mỹ đã lớn hơn tổng của bốn thị trường tiếp theo, cho thấy mức độ phụ thuộc vào thị trường này vẫn cao.

Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ các mặt hàng gì?

viet-nam-xuat-khau-det-may

Thách thức của ngành dệt may năm 2026 không nằm ở việc thiếu quy mô đơn hàng, mà ở khả năng giữ biên lợi nhuận và duy trì đơn hàng tại các thị trường lớn. Vinatex ghi nhận Mỹ vẫn chiếm hơn 44% xuất khẩu dệt may ngay từ quý I/2026, nhưng các nhãn hàng ngày càng yêu cầu cao hơn về tốc độ giao hàng, minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội. Điều này làm dư địa tăng trưởng từ mô hình gia công đơn thuần ngày càng hạn chế.

Ở EU, cơ hội lại gắn nhiều hơn với khả năng tận dụng EVFTA và đáp ứng quy tắc xuất xứ. Bộ Công Thương lưu ý dệt may là một trong những ngành hưởng lợi đáng kể từ ưu đãi thuế quan, nhưng yêu cầu xuất xứ vẫn là nút thắt quan trọng nếu doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào vải và nguyên liệu ngoài khu vực được phép cộng gộp. Đồng thời, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc đang trở thành điều kiện cạnh tranh ngày càng rõ tại thị trường này.

Áp lực cạnh tranh không chỉ đến từ nhu cầu yếu. Các nhà sản xuất như Trung Quốc đang mở rộng nhanh tại nhiều thị trường mới nổi, trong khi một số khách hàng quốc tế đã bắt đầu yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam cân nhắc phân bổ sản xuất sang các quốc gia khác để đa dạng hóa rủi ro chuỗi cung ứng.

Xuất khẩu dệt may Việt Nam 2026: Cơ hội sau mốc 18,86 tỷ USD

Giày dép các loại - 14,18 tỷ USD

Xuất khẩu giày dép đạt khoảng 14,18 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, gần như đi ngang so với cùng kỳ và chiếm 4,4% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam.

Đây là nhóm ngành chốt lại top 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Sau mức 1,42 tỷ USD trong tháng 2, kim ngạch phục hồi lên 1,95 tỷ USD tháng 3 và duy trì quanh 2,15–2,23 tỷ USD/tháng từ tháng 4 đến tháng 7. Riêng tháng 7/2026 đạt 2,23 tỷ USD, chỉ cao hơn khoảng 1,6% so với 2,20 tỷ USD cùng kỳ 2025.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 2,052,681
2/2026 1,417,213
3/2026 1,946,775
4/2026 2,221,030
5/2026 2,147,408
6/2026 2,169,311
7/2026 2,230,301
Tổng 7T/2026 14,184,719

Mỹ tiếp tục là thị trường quan trọng nhất với khoảng 5,58 tỷ USD, chiếm gần 39,3% tổng kim ngạch giày dép. Hà Lan đứng thứ hai với 1,10 tỷ USD, tiếp theo là Trung Quốc 720 triệu USD, Bỉ 705 triệu USD và Nhật Bản 685 triệu USD. Việc Hà Lan và Bỉ cùng nằm trong nhóm đầu cũng cho thấy EU vẫn là một cụm thị trường quan trọng, không chỉ về tiêu dùng cuối mà còn qua các trung tâm phân phối của khu vực.

Ngành đang có quy mô sản xuất và vị thế xuất khẩu rất lớn nhưng dư địa tăng trưởng kim ngạch ngắn hạn đang chậm lại. Việt Nam hiện thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu giày dép, với khoảng 1,4 tỷ đôi sản xuất và 1,3 tỷ đôi xuất khẩu mỗi năm. Tuy nhiên, khi ngành đã đạt quy mô lớn, tăng trưởng tiếp theo ngày càng phụ thuộc vào khả năng dịch chuyển sang sản phẩm có giá trị cao hơn, mở rộng thị trường và nâng tỷ lệ nội địa hóa thay vì chỉ tăng sản lượng.

FTA đang tạo lợi thế rõ hơn tại EU, nhưng lợi ích không tự động chuyển thành tăng trưởng nếu doanh nghiệp không đáp ứng quy tắc xuất xứ. Bộ Công Thương cho biết giá trị giày dép sử dụng C/O ưu đãi đã đạt quy mô lớn, cho thấy doanh nghiệp đang khai thác đáng kể các hiệp định thương mại. Tuy nhiên, khả năng chứng minh xuất xứ nguyên liệu vẫn là điều kiện để tận dụng đầy đủ ưu đãi thuế quan.

Phương tiện vận tải và phụ tùng - 11,63 tỷ USD

Xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng đạt khoảng 11,63 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 17,4% so với cùng kỳ và chiếm 3,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam. Nhóm này bao gồm xe thương mại, rơ-moóc, thân xe, phụ tùng và linh kiện ô tô, tàu hàng, tàu công vụ và các phương tiện chuyên dụng khác.

Đà tăng cũng tương đối ổn định. Từ tháng 3 đến tháng 7/2026, kim ngạch duy trì trong khoảng 1,63–1,87 tỷ USD/tháng và tháng 7 đạt mức cao nhất là 1,87 tỷ USD. So với 1,68 tỷ USD của tháng 7/2025, mức này tăng khoảng 11,3%.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 1,624,489
2/2026 1,247,257
3/2026 1,632,229
4/2026 1,752,258
5/2026 1,730,769
6/2026 1,774,232
7/2026 1,868,076
Tổng 7T/2026 11,629,310

Cơ cấu thị trường của ngành xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng có sự phân tán hơn so với các nhóm ngành xuất khẩu khác. Mỹ đứng đầu với khoảng 2,44 tỷ USD nhưng chỉ chiếm khoảng 21% tổng kim ngạch. Nhật Bản theo sát với 1,97 tỷ USD, Hàn Quốc đạt 1,17 tỷ USD, Mexico 512 triệu USD và Thái Lan gần 420 triệu USD. Năm thị trường lớn nhất cộng lại chiếm khoảng 56% tổng toàn ngành. Một số thị trường mới cũng cho thấy tốc độ tăng đáng chú ý; chẳng hạn, xuất khẩu nhóm này sang Ấn Độ trong hai tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 252,7 triệu USD, tăng 39% so với cùng kỳ.

Gỗ và sản phẩm gỗ - 10,21 tỷ USD

Gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 10,21 tỷ USD, tăng 5,7% so với 7 tháng năm 2025, và chiếm 3,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam. Quy mô đã vượt 10 tỷ USD nhưng gần một nửa kim ngạch vẫn phụ thuộc vào Mỹ.

Ngành duy trì nền xuất khẩu tương đối ổn định. Sau mức thấp 979,6 triệu USD trong tháng 2, kim ngạch phục hồi lên 1,40 tỷ USD tháng 3 và dao động quanh 1,45–1,61 tỷ USD/tháng từ tháng 5 đến tháng 7. So với tháng 7/2025, kim ngạch tháng 7/2026 tăng khoảng 8,5%, cao hơn tốc độ tăng lũy kế nhưng vẫn chưa cho thấy một chu kỳ bứt phá mạnh.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 1,615,778
2/2026 979,599
3/2026 1,400,308
4/2026 1,585,852
5/2026 1,453,444
6/2026 1,565,255
7/2026 1,609,604
Tổng 7T/2026 10,209,840

Mỹ nhập khoảng 5,09 tỷ USD, tương đương gần 49,9% tổng kim ngạch nhóm hàng. Trung Quốc đứng thứ hai với 1,54 tỷ USD, Nhật Bản 1,27 tỷ USD, Hàn Quốc 397 triệu USD và Canada 176 triệu USD. Năm thị trường lớn nhất cộng lại chiếm hơn 82% kim ngạch toàn ngành.

Điểm nổi bật nhất của ngành nằm ở mức độ tập trung thị trường rất cao, tuy nhiên không phải hiện tượng mới. Mặc dù chiến lược đa dạng hóa đã có tiến triển ở một số thị trường, nhưng cấu trúc đầu ra vẫn tập trung rất mạnh vào năm điểm đến chính.

Xuat Khau Gỗ Va Sản Pham Tu Go

Thương mại với Mỹ đang đi kèm mức độ giám sát cao hơn đối với một số sản phẩm gỗ. Bộ Công Thương cho biết Mỹ đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với gỗ dán cứng và gỗ trang trí nhập khẩu từ Việt Nam, cho thấy phòng vệ thương mại có thể tác động trực tiếp đến từng phân khúc ngay cả khi tổng nhu cầu thị trường vẫn lớn.

Ở chiều ngược lại, EU tạo cơ hội đa dạng hóa nhưng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và tính hợp pháp của nguyên liệu ngày càng quan trọng. Sản phẩm gỗ thuộc nhóm hàng chịu tác động trực tiếp của Quy định chống phá rừng của EU (EUDR), khiến khả năng chứng minh nguồn gốc gỗ không còn chỉ là vấn đề tuân thủ mà trở thành điều kiện tiếp cận thị trường.

Việt Nam xuất khẩu Gỗ đi các nước nào?

Hàng thủy sản - 6,86 tỷ USD

Xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 6,86 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng khoảng 12,8% so với cùng kỳ và chiếm 2,1% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam.

Đà tăng khá ổn định sau tháng 2. Kim ngạch từ tháng 4 đến tháng 7 đều quanh hoặc trên 1 tỷ USD/tháng, lần lượt đạt 1,01 tỷ USD, 1,02 tỷ USD, 1,09 tỷ USD và 1,10 tỷ USD. So với 7 tháng đầu năm 2025, kim ngạch tăng từ khoảng 6,08 tỷ USD lên 6,86 tỷ USD.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 1,010,774
2/2026 706,723
3/2026 921,898
4/2026 1,010,847
5/2026 1,016,541
6/2026 1,090,865
7/2026 1,101,104
Tổng 7T/2026 6,858,753

Trung Quốc dẫn đầu với 1,65 tỷ USD nhưng chỉ chiếm khoảng 24%. Mỹ đạt 1,07 tỷ USD, Nhật Bản 942 triệu USD, Hàn Quốc 484 triệu USD và Australia 214 triệu USD.

Mỹ vẫn là thị trường có giá trị cao nhưng cũng chứa nhiều rủi ro thương mại và tuân thủ hơn. VASEP lưu ý triển vọng 2026 chịu tác động bởi các vấn đề như thuế quan, rà soát chống bán phá giá đối với tôm và yêu cầu MMPA, khiến doanh nghiệp phải tính đến chi phí tuân thủ và rủi ro đơn hàng chứ không chỉ quy mô nhu cầu. Trong khi đó, Trung Quốc và các thị trường châu Á giúp ngành có thêm độ phân tán đầu ra, còn khu vực Mỹ Latinh đang nổi lên với nhu cầu một số sản phẩm như cá tra.

Một điểm khác biệt quan trọng của thủy sản so với các ngành công nghiệp khác là tăng trưởng phụ thuộc đồng thời vào thị trường, nguồn nguyên liệu và chi phí chuỗi lạnh. VASEP cho biết trong nửa đầu năm 2026, dù xuất khẩu duy trì tăng trưởng, doanh nghiệp vẫn chịu áp lực từ giá nguyên liệu, logistics và biến động thị trường. Với sản phẩm tươi, đông lạnh hoặc chế biến, chi phí bảo quản và thời gian vận chuyển có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh

Xuất Khẩu Thủy Sản: Thị trường, Mặt hàng chủ lực & Triển vọng 2026

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận - 5,63 tỷ USD

Xuất khẩu đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận đạt khoảng 5,63 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026. Ngành này có tốc độ tăng trưởng rất mạnh trong những tháng gần đây.

Đây là một trong những nhóm đáng chú ý nhất ngoài ba ngành công nghệ. Kim ngạch tháng 5 đạt 783 triệu USD, tháng 6 vượt 1,02 tỷ USD và tháng 7 tăng lên 1,26 tỷ USD, gần gấp 1,7 lần tháng 1. Dữ liệu năm 2025 cũng cho thấy đây không phải xu hướng mới xuất hiện: cả năm 2025, xuất khẩu nhóm đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận đạt khoảng 9,3 tỷ USD và từng ghi nhận mốc tăng kỷ lục 148% so với năm 2024.

Nhóm này bao gồm đồ chơi hoàn chỉnh, dụng cụ thể thao và nhiều loại chi tiết, bộ phận phục vụ sản xuất. Vì vậy, mức tăng mạnh của tổng kim ngạch có thể đến từ việc Việt Nam mở rộng vai trò trong chuỗi sản xuất gia công và linh kiện, chứ không chỉ từ nhu cầu tiêu dùng cuối đối với đồ chơi thành phẩm.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD)
1/2026 725,962
2/2026 443,255
3/2026 748,404
4/2026 649,141
5/2026 782,807
6/2026 1,018,338
7/2026 1,259,487
Tổng 7T/2026 5,627,394

Mỹ là động lực tăng trưởng chính với 2,93 tỷ USD, chiếm khoảng 52% tổng kim ngạch. Nhật Bản đạt 542 triệu USD, Hà Lan 396 triệu USD, Anh 250 triệu USD và Đức 166 triệu USD.Năm 2025 cũng cho thấy thị trường ngoài Mỹ đang có tín hiệu tăng trưởng mạnh: xuất khẩu sang Anh tăng hơn 60%, Hà Lan tăng hơn 100%.

Việc hơn một nửa kim ngạch phụ thuộc vào Mỹ tạo ra rủi ro tập trung tương đối cao. Trong khi đó, Nhật Bản, Hà Lan, Anh và Đức mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều. Điều này khiến chiến lược đa dạng hóa thị trường có ý nghĩa đặc biệt nếu doanh nghiệp muốn giảm phụ thuộc vào một vài buyer hoặc chuỗi phân phối lớn tại Mỹ.

Cà phê - 5,45 tỷ USD

Xuất khẩu cà phê đạt khoảng 5,45 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2026 với sản lượng gần 1,20 triệu tấn. So với cùng kỳ 2025, lượng xuất khẩu tăng khoảng 12,4% nhưng kim ngạch lại giảm gần 9,8%.

Trong 7 tháng 2025, Việt Nam xuất khoảng 1,065 triệu tấn cà phê, thu về 6,04 tỷ USD. Cùng kỳ 2026, lượng tăng lên khoảng 1,197 triệu tấn, nhưng giá trị giảm còn 5,45 tỷ USD. Xu hướng này phù hợp với diễn biến chung của thị trường cà phê thế giới: World Bank dự báo giá Robusta năm 2026 giảm mạnh khi nguồn cung phục hồi, trong khi ICO ghi nhận chỉ số giá cà phê tổng hợp tháng 6/2026 đã xuống mức thấp nhất gần hai năm trước khi hồi phục cuối tháng.

Giá cà phê xuất khẩu bình quân giảm từ khoảng 5.672 USD/tấn xuống 4.552 USD/tấn, tương đương giảm gần 20%. Điểm này đặc biệt đáng chú ý vì năm 2025 là một năm có nền giá rất cao. Riêng 6 tháng đầu 2025, giá cà phê xuất khẩu bình quân của Việt Nam đạt khoảng 5.708 USD/tấn, tăng hơn 59% so với cùng kỳ 2024. Vì vậy, mức giảm trong năm 2026 không hẳn phản ánh nhu cầu suy yếu, mà phần lớn cho thấy hiệu ứng giá đang đảo chiều sau giai đoạn cao bất thường.

Tháng Trị giá xuất khẩu (1000 USD) Khối lượng xuất khẩu (Tấn)
1/2026 1,083,563 224,933
2/2026 676,155 143,590
3/2026 995,849 223,600
4/2026 830,776 192,207
5/2026 640,636 143,388
6/2026 580,863 121,755
7/2026 642,535 147,890
Tổng 7T/2026 5,450,377 1,197,363

Cơ cấu thị trường của cà phê cũng khác nhiều ngành xuất khẩu chủ lực khác. Đức đứng đầu với khoảng 719 triệu USD, nhưng chỉ chiếm 13,2% tổng kim ngạch. Italy đạt 445 triệu USD, Nhật Bản 388 triệu USD, Tây Ban Nha 380 triệu USD và Mỹ 364 triệu USD.

Xuất Khẩu Cà Phê

Châu Âu vẫn là cụm thị trường đặc biệt quan trọng. Năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận châu Âu là khu vực nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất, với khoảng 670 nghìn tấn và 3,6 tỷ USD. Điều này giúp ngành giảm rủi ro phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất, nhưng cũng làm yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chất lượng và khả năng tiếp cận các buyer rang xay lớn tại EU trở nên ngày càng quan trọng.

Chất lượng tăng trưởng cà phê đang chuyển từ câu chuyện giá sang sản lượng và cơ cấu sản phẩm. Khi giá Robusta hạ nhiệt, doanh nghiệp khó dựa vào giá thế giới để tiếp tục nâng kim ngạch như năm 2025. Dư địa tăng giá trị sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tỷ trọng cà phê rang xay, hòa tan, specialty coffee và khả năng bán trực tiếp vào các chuỗi rang xay hoặc phân phối thay vì chỉ xuất khẩu nguyên liệu. Bộ Công Thương cũng nhấn mạnh chế biến sâu là một hướng quan trọng để nâng giá trị cà phê Việt Nam tại các thị trường khó tính.

TradeInt: Giải Pháp Chiến Lược Cho Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Việt

Top 10 cho biết ngành nào lớn và ngành nào đang tăng, nhưng chưa cho doanh nghiệp biết sản phẩm cụ thể của mình nên bán vào thị trường nào hoặc buyer nào đang thực sự mua.

Trong bối cảnh xuất khẩu Việt Nam đang tăng tốc mạnh, doanh nghiệp có cơ hội lớn để mở rộng thị trường và tìm kiếm đối tác mới. Nhưng để tận dụng hiệu quả, nhà xuất khẩu cần biết cách để xác định đúng thị trường tiềm năng, tiếp cận đúng người mua và kiểm soát rủi ro trước khi rót nguồn lực, và TradeInt sẽ hỗ trợ bạn điều đó!

Là nền tảng dữ liệu thương mại toàn cầu, TradeInt giúp doanh nghiệp Việt:

  • Tra cứu dữ liệu xuất nhập khẩu theo mã HS, quốc gia và đối tác từ 200+ quốc gia.
  • Tiếp cận người mua và nhà nhập khẩu tiềm năng qua lịch sử giao dịch của 470 triệu đối tác có xác thực.
  • So sánh thị trường và theo dõi dòng hàng của đối thủ dựa trên hơn 10 tỷ dữ liệu thương mại.

Từ phân tích các mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam đến đánh giá từng đối tác, TradeInt biến dữ liệu thành công cụ ra quyết định, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường dựa trên dòng chảy thương mại thật thay vì phỏng đoán.

Liên hệ đội ngũ tư vấn TradeInt

Kết luận

Xuất khẩu Việt Nam đang tăng nhanh trong năm 2026, nhưng tốc độ tăng trưởng giữa các ngành phân hóa rất rõ. Điện tử, máy móc và điện thoại đang tạo phần lớn mức tăng mới; dệt may và giày dép duy trì quy mô nhưng gần như đi ngang; phương tiện vận tải và thủy sản tăng khá tốt; còn cà phê cho thấy sản lượng tăng không đảm bảo kim ngạch tăng.

Nếu nhịp xuất khẩu những tháng cuối năm được duy trì, tổng kim ngạch năm 2026 có thể tiến vào vùng 550–570 tỷ USD. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp, con số toàn ngành chỉ có giá trị định hướng. Quyết định xuất khẩu thực tế vẫn phải dựa trên đúng sản phẩm, đúng thị trường và đúng nhà nhập khẩu, thay vì chỉ chạy theo những ngành hoặc quốc gia đang đứng đầu bảng xếp hạng. Tìm hiểu thêm về giải pháp của TradeInt cho doanh nghiệp xuất khẩu..


TRADEINT - NỀN TẢNG TRA CỨU THÔNG TIN XUẤT NHẬP KHẨU TOÀN CẦU

Giải Pháp Dữ Liệu Giúp Doanh Nghiệp Việt Nam Chinh Phục Thị Trường Quốc Tế

Địa chỉ: Tầng 15, TTC Tower, số 19 Duy Tân, phường Cầu Giấy, Hà Nội.

Liên hệ : (+84) 32 830 8550 - Email: [email protected]

Đặt lịch Demo với TradeInt ngay để trải nghiệm nền tảng miễn phí!

Share this article: